Bỏ thủ tục cấp phép phương tiện thủy nội địa - tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp

Trí Dũng
(TBTCO) - Theo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, đến thời điểm hiện nay, đã có đủ cơ sở chính trị, thực tiễn để bãi bỏ thủ tục hành chính cấp phép phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu.
aa
Bỏ thủ tục cấp phép phương tiện thủy nội địa - tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp
Việc cắt giảm thủ tục hành chính trong cấp phép cho phương tiện thuỷ nội địa sẽ tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Ảnh: Chánh Trung

Lấy doanh nghiệp làm trung tâm để cải cách

Theo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 18 - NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong thời gian tới, hệ thống các Cảng vụ Đường thủy nội địa ở địa phương cũng được điều chỉnh, sắp xếp, tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới. Chính vì vậy, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đã nghiên cứu rà soát và đang dự thảo Đề án đề xuất các giải pháp cắt giảm thủ tục hành chính cấp phép cho phương tiện thuỷ nội địa. Đề án này có tác động trực tiếp đến công tác tổ chức bộ máy và tổ chức quản lý nhà nước chuyên ngành, cấp phép cho phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu trong phạm vi cả nước.

Dự thảo Đề án được xây dựng trên cơ sở quan điểm lấy doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo mọi thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, sản xuất.

Nhà nước vẫn phải cấp bù kinh phí hoạt động cấp phép

Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang, thực tế cho thấy, dù đạt nhiều kết quả tốt trong việc kiểm soát an toàn cho phương tiện thủy nội địa, song công tác này vẫn phát sinh những bất cập như: tình trạng gây ùn, tắc, chậm tiến độ vận tải hàng hóa và hành khách do hầu hết quá trình giải quyết thủ tục hành chính đối với các phương tiện thủy nội địa đang tiếp nhận và trả kết quả trực tiếp thông qua hồ sơ giấy. Điều này, đòi hỏi số lượng nhân sự, thời gian giải quyết thủ tục hành chính lớn, gây ảnh hưởng đến hiệu suất giải quyết công việc, mặc dù hoạt động này diễn ra hàng giờ (24/24), kể cả thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ.

Thứ hai, quy trình cấp phép phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu vẫn còn phức tạp, thành phần hồ sơ lớn, có sự khác biệt giữa việc áp dụng các quy định của pháp luật về hàng hải và đường thủy nội địa trong công tác giải quyết thủ tục hành chính.

Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm phân tán của các cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu cũng như sự khác biệt trong quy trình giải quyết thủ tục hành chính và thành phần hồ sơ giữa việc áp dụng các quy định của pháp luật về hàng hải và đường thủy nội địa trong việc cấp phép mà các doanh nghiệp vận tải phải chịu thêm một số khoản “chi phí hành lang” khác phục vụ công tác làm thủ tục như chi phí thuê nhà xưởng, nhân công, phương tiện di chuyển... Những khoản chi phí này có thể lên đến 5% doanh thu của mỗi chuyến vận chuyển.

Thứ tư, thủ tục cấp giấy phép cho phương tiện vào cảng, bến thủy nội địa và việc kiểm tra phương tiện chưa tách bạch, gây khó khăn cho phương tiện.

Thứ năm, có sự bất bình đẳng trong mức thu phí, lệ phí giữa phương tiện thủy nội địa mang cấp VR-SB và các phương tiện thủy nội địa khác khi vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu.

Đặc biệt, cuối cùng là đối với nguồn thu phí, lệ phí, sau khi nộp ngân sách nhà nước theo quy định, thực tế ước tính chi phí tổ chức thực hiện công tác cấp phép phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng bến thủy nội địa khối Cảng vụ Đường thủy nội địa vẫn cần ngân sách nhà nước cấp bù.

Trong khi đó, hệ thống Cơ sở dữ liệu về phương tiện thủy nội địa, thuyền viên, người lái phương tiện, hệ thống giám sát hành trình phương tiện đang được đẩy mạnh triển khai và dự kiến đi vào hoạt động trong thời gian tới, góp phần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát từ xa mà không cần thiết phải thực hiện các thủ tục hành chính theo phương thức truyền thống.

Đề xuất giải pháp thay thế thủ tục cấp phép

Trên cơ sở rà soát, phân tích hiện trạng và xu hướng phát triển của hệ thống cơ sở dữ liệu, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đề xuất bãi bỏ thủ tục hành chính cấp phép phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu (không bao gồm: các phương tiện mang cấp VR-SB; phương tiện thủy xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh - việc cấp phép vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu của các loại phương tiện này đang được điều chỉnh theo quy định đối với phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh theo quy định pháp luật hàng hải đối với tàu biển). Đồng thời với đó là cắt giảm khoản thu phí, lệ phí đối với phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu tương ứng với các loại phương tiện được bãi bỏ thủ tục.

Để thay thế thủ tục cấp phép, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam cũng đề xuất giải pháp quản lý đối với cơ quan quản lý nhà nước, chủ cảng biển, thuyền viên. Trong đó, cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý hoạt động của phương tiện vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu thông qua việc lập và triển khai kế hoạch điều động phương tiện trên cơ sở tiếp nhận thông báo thông tin về phương tiện hoạt động từ chủ phương tiện hoặc thuyền viên hoặc người lái phương tiện và chủ cảng, bến, khu neo đậu. Kế hoạch điều động phương tiện được đăng tải công khai trên trang thông tin của cơ quan, đơn vị.

Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành quản lý hoạt động, hành trình phương tiện thông qua việc nhận dạng, định vị, chia sẻ thông tin giữ các tàu và bờ thông qua hệ thống nhận dạng tự động AIS và xác định vị trí, tốc độ, hướng tàu thông qua hệ thống định vị toàn cầu GPS. Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và các cơ quan liên quan; kiểm tra an toàn phương tiện; giấy chứng nhận khả năng chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên, người lái phương tiện.

Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về phương tiện và thuyền viên, người lái phương tiện. Tăng cường kiểm tra và xử lý vi phạm và thực hiện rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Chủ cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu thực hiện thông báo kế hoạch điều độ phương tiện trước 16 giờ hàng ngày để lập và triển khai kế hoạch điều động phương tiện; thực hiện báo cáo, cập nhật số liệu thống kê theo định kỳ và khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước; lắp đặt camera có đường truyền kết nối, chia sẻ tín hiệu đến cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành; khuyến khích xây dựng phần mềm quản lý việc lập kế hoạch điều độ phương tiện và chia sẻ dữ liệu với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành.

Mỗi năm, thủ tục cấp phép cho phương tiện thủy nội địa tăng từ 10 - 15%

Theo rà soát của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, giai đoạn 2022 - 2024, tổng số lượt giải quyết thủ tục cho phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng, bến thủy nội địa do các Cảng vụ Đường thủy nội địa thực hiện là trên 4 triệu lượt. Trong đó, các Cảng vụ Đường thủy nội địa thuộc Cục làm thủ tục cho trên 1 triệu lượt phương tiện; các Cảng vụ Đường thủy nội địa địa phương làm thủ tục cho trên 2,9 triệu lượt phương tiện. Tổng số lượt giải quyết thủ tục cho phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu do các Cảng vụ Hàng hải thực hiện trên 1,2 triệu lượt.

Tính trung bình, mỗi năm số lượng thủ tục hành chính cấp phép cho phương tiện vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu đều tăng từ 10 - 15%. Theo kết quả khảo sát sơ bộ, con số này năm 2022 là trên 1,47 triệu thủ tục hành chính, năm 2023 là trên 1,8 triệu thủ tục hành chính và năm 2024 là trên 1,99 triệu thủ tục hành chính. Tổng số phí, lệ phí thu được trong giai đoạn này khi giải quyết thủ tục cho phương tiện thủy nội địa vào, rời cảng biển, cảng, bến thủy nội địa đạt trên 936 tỷ đồng.

Trí Dũng

Đọc thêm

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55 - 58% GDP; Việt Nam có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

(TBTCO) - Đối với Việt Nam, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD, tăng khoảng 30,3% so với năm 2021.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80