Chính sách tiền tệ kỳ vọng sẽ có xu hướng nới lỏng trong 2023

Thái Duy
(TBTCO) - Với mặt bằng lãi suất hiện nay đang ở mức cao, tăng trưởng kinh tế trong năm 2023 sẽ gặp nhiều khó khăn hơn do các yếu tố từ bên ngoài. Thực tế này kỳ vọng chính sách tiền tệ sẽ có xu hướng nới lỏng hơn, kết hợp với chính sách tài khóa mở rộng nhằm thúc đẩy tăng trưởng.
aa

Tín dụng bật tăng mạnh trong 10 ngày cuối năm

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần của SSI Research vừa phát hành cho biết, biến động trên thị trường tiền tệ trong tuần giao dịch cuối cùng của năm không quá nhiều bất ngờ, trong bối cảnh thanh khoản hệ thống vẫn tương đối dư thừa. Xuyên suốt trong những ngày đầu tuần, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm tiếp tục xu hướng giảm, với mức thấp nhất là 2,8% vào phiên giao dịch ngày thứ 5. Trạng thái này đã được đảo ngược trong ngày giao dịch cuối cùng và kết tuần, lãi suất liên ngân hàng bật tăng về mức 5% (tăng 150 điểm cơ bản).

Trên kênh hoạt động thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục linh hoạt kết hợp nghiệp vụ mua kỳ hạn và bán tín phiếu. Trong đó, trên kênh mua kỳ hạn, NHNN chào thầu 49 nghìn tỷ đồng (tăng gấp đôi so với tuần trước) ở kỳ hạn 7 ngày và lãi suất là 6,0%. Tổng khối lượng trúng thầu đạt 41,9 nghìn tỷ đồng trúng thầu (riêng phiên ngày thứ 6 là 17,3 nghìn tỷ).

Trên kênh tín phiếu, NHNN chào thầu với kỳ hạn 7 ngày ở hầu hết các phiên, với tổng khối lượng trúng thầu đạt 124,4 nghìn tỷ đồng, lãi suất dao động từ 5,2% đến 6,0%. Kết tuần cuối năm 2022, NHNN hút ròng 37,2 nghìn tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở, khối lượng lưu hành trên kênh mua kỳ hạn là 62,9 nghìn tỷ và kênh tín phiếu là 124,4 nghìn tỷ đồng.

Chính sách tiền tệ kỳ vọng sẽ có xu hướng nới lỏng trong 2023
Theo SSI Research, mục tiêu điều hành trong năm 2023 cũng không có nhiều khác biệt với hiện tại, là sẽ tùy vào trạng thái thực tế của thị trường để có những giải pháp phù hợp.

Cũng theo thông tin từ SSI Research, NHNN trong hội nghị tổng kết năm 2022 của Chính phủ đã công bố tăng trưởng tín dụng trong năm 2022 ước đạt 14,5% so với cuối năm 2021 (năm 2021: 13,6%). Như vậy, chỉ trong 10 ngày cuối cùng của tháng 12, tín dụng đã bật tăng khoảng hơn 1,5 điểm phần trăm, tuy nhiên mức tăng trưởng này vẫn thấp hơn hạn mức mà NHNN cho phép trong năm 2022 là 16%. Bức tranh tăng trưởng tín dụng trong năm 2022 có thể được chia rõ rệt thành 2 màu sắc, tăng mạnh trong nửa đầu năm và giảm nhiệt trong nửa cuối năm trong bối cảnh các điều kiện tài chính thắt chặt hơn.

Nhìn chung, các chuyên gia của SSI Research đánh giá, chính sách tiền tệ xuyên suốt năm 2022 là linh hoạt với xu hướng thắt chặt, tùy theo diễn biến tình hình để xác định trọng tâm, trọng điểm ưu tiên trong từng thời điểm.

Thực tế, từ tháng 10 khi sự cố SCB xảy ra tác động mạnh tới thanh khoản hệ thống và thị trường, NHNN đã ưu tiên cao nhất và tập trung thực hiện các giải pháp đảm bảo an toàn hệ thống và ổn định thị trường ngoại hối.

Theo các chuyên gia của SSI Research, mục tiêu điều hành trong năm 2023 cũng không có nhiều khác biệt với hiện tại, là sẽ tùy vào trạng thái thực tế của thị trường để có những giải pháp phù hợp. “Tuy nhiên, với mặt bằng lãi suất hiện nay đang ở mức tiệm cận cao (tương đương giai đoạn 2011-2012) và tăng trưởng kinh tế trong năm tới sẽ gặp nhiều khó khăn hơn do các yếu tố từ bên ngoài, chúng tôi kỳ vọng chính sách tiền tệ sẽ có xu hướng nới lỏng hơn,và kết hợp với chính sách tài khóa mở rộng nhằm thúc đẩy tăng trưởng” - chuyên gia của SSI Research cho hay.

Tỷ giá USD/VND trong vùng kiểm soát trong năm 2022

Trong năm 2022, VND mất giá khoảng 3,5% - thấp hơn nhiều so với các đồng tiền khác trên thế giới và khu vực.

Trong tuần cuối năm 2022, trên thị trường trong nước, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá liên ngân hàng dao động trên biên độ hẹp, giảm khoảng 0,2% so với cuối tuần trước trong khi đó tỷ giá chợ đen ghi nhận mức giảm mạnh hơn, khi giảm tới 225 đồng và hiện chỉ còn giao dịch ở mức 23.750 đồng - tương đương với tỷ giá trên thị trường niêm yết. Như vậy, tâm lý găm giữ USD đã được giải tỏa nhờ chênh lệch tăng cao giữa lãi suất huy động VND và USD.

Chính sách tiền tệ kỳ vọng sẽ có xu hướng nới lỏng trong 2023

Bên cạnh đó, các yếu tố cơ bản liên quan đến nguồn cung ngoại tệ cũng có nhiều điểm tích cực, như dòng vốn FDI giải ngân, FII (vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp), cán cân thương mại thăng dư hay dòng tiền từ các khoản vay ngoại tệ mới được giải ngân.

Trong năm 2022, VND mất giá khoảng 3,5% - thấp hơn nhiều so với các đồng tiền khác trên thế giới và khu vực. NHNN cũng đã triển khai các biện pháp cần thiết nhằm ổn định tỷ giá trong năm 2022, bao gồm tăng biên độ giao dịch của tỷ giá từ + 3% lên + 5% để linh hoạt và sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp./.

Thái Duy

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng, với vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất lên tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

(TBTCO) - FTSE Russell vừa công bố kết quả rà soát bán niên tháng 9/2026 đối với FTSE Global Equity Index Series (FTSE GEIS) khu vực châu Á – Thái Bình Dương (không bao gồm Nhật Bản và Trung Quốc). Theo đó, cổ phiếu SSB của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) là 1 trong 27 cổ phiếu Việt Nam mới được đưa vào FTSE Global All Cap Index. Thay đổi dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Điều này có thể giúp SSB được nhiều quỹ và nhà đầu tư quốc tế theo dõi hơn, kéo theo cơ hội gia tăng thanh khoản, thu hút dòng tiền và hỗ trợ giá cổ phiếu.
Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

(TBTCO) - Bảo hiểm nhân thọ không phải khoản tiết kiệm có lãi suất cố định, cũng không phải kênh đầu tư hứa hẹn sinh lời cao. Giá trị cốt lõi của sản phẩm là bảo vệ tài chính trước những rủi ro khó lường. Để khách hàng thực sự “hiểu đúng để yên tâm”, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên vai khách hàng với yêu cầu đọc kỹ hợp đồng; doanh nghiệp và người tư vấn phải cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, minh bạch ngay từ thời điểm tham gia.
Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 30 USD/ounce, xuống mức 4.604 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cùng đi xuống, có nơi giảm tới 1,3 triệu đồng/lượng.
Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

(TBTCO) - Khối ngoại đang sở hữu 20,54% vốn Techcombank, trong khi giới hạn tối đa là 22,5386%, khiến room ngoại chỉ còn khoảng 2 điểm phần trăm. Trong bối cảnh hai “ông lớn” ngân hàng Pháp và Hàn Quốc được cho là đang đàm phán mua ít nhất 15% vốn Techcombank trị giá khoảng 2 tỷ USD, phương án nhận chuyển nhượng cổ phần từ nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu được đặt ra.
12 ngân hàng dành 408.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi, tiếp sức tăng trưởng

12 ngân hàng dành 408.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi, tiếp sức tăng trưởng

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, 12 ngân hàng thương mại đã đăng ký tham gia chương trình tín dụng ưu đãi quy mô khoảng 408.000 tỷ đồng, hướng dòng vốn vào các động lực tăng trưởng kinh tế cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhiều học sinh, sinh viên được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám, chữa bệnh hàng tỷ đồng

Nhiều học sinh, sinh viên được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám, chữa bệnh hàng tỷ đồng

(TBTCO) - Tham gia bảo hiểm y tế, nhiều học sinh, sinh viên không may mắc bệnh đã được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám, chữa bệnh lớn, có em được chi trả lên tới hơn 1,3 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Hà Nội - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Miền Tây - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,670 ▼30K 14,970 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,670 ▼30K 14,970 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,670 ▼30K 14,970 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,670 ▼30K 14,970 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,670 ▼30K 14,970 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,670 ▼30K 14,970 ▼130K
NL 99.99 14,150 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▼50K
Trang sức 99.9 14,280 ▼130K 14,880 ▼130K
Trang sức 99.99 14,290 ▼130K 14,890 ▼130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,467 ▲1320K 14,972 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,467 ▲1320K 14,973 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,462 ▼3K 1,492 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,462 ▼3K 1,493 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,437 ▲1293K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,733 ▲125730K 146,733 ▲132030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,511 ▼225K 111,311 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,136 ▲82002K 100,936 ▲90822K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,761 ▼183K 90,561 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,759 ▼175K 86,559 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,156 ▼125K 61,956 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Cập nhật: 28/08/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18231 18507 19084
CAD 18286 18562 19180
CHF 31734 32115 32764
CNY 0 3836 3932
EUR 29726 29948 31028
GBP 34618 35010 35947
HKD 0 3195 3397
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15222 15810
SGD 19970 20253 20830
THB 706 769 822
USD (1,2) 25808 0 0
USD (5,10,20) 25848 0 0
USD (50,100) 25876 25890 26257
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,780 29,804 31,217
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,808 34,902 36,103
AUD 18,433 18,500 19,198
CAD 18,477 18,536 19,221
CHF 32,013 32,113 33,062
SGD 20,099 20,162 20,951
CNY - 3,805 3,954
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.42 18.17 19.76
THB 754.63 763.95 817.71
NZD 15,207 15,348 15,808
SEK - 2,692 2,788
DKK - 3,994 4,136
NOK - 2,750 2,848
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,050.4 - 6,830.67
TWD 744.47 - 901.92
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26270
AUD 18418 18518 19444
CAD 18479 18579 19590
CHF 32023 32053 33643
CNY 3820.7 3845.7 3980.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29939 29969 31691
GBP 34948 34998 36766
HKD 0 3330 0
JPY 160.16 160.66 171.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15329 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20141 20271 20994
THB 0 737.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14600000 14600000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,881 25,911 26,290
USD20 25,861 25,911 26,840
USD1 25,811 25,911 26,890
AUD 18,486 18,586 19,696
EUR 29,734 29,834 31,497
CAD 18,428 18,528 19,838
SGD 20,228 20,378 21,635
JPY 160.56 162.06 168
GBP 34,849 34,999 36,315
XAU 14,668,000 0 14,972,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/08/2026 13:30
Ngân hàng