Sức bền trước "cơn gió ngược" toàn cầu, 90% doanh nghiệp Việt lên kế hoạch ra "biển lớn"

Ánh Tuyết
Nghiên cứu triển vọng doanh nghiệp nửa đầu năm 2026 của Ngân hàng UOB Việt Nam cho thấy tín hiệu khởi sắc khi 85% doanh nghiệp ghi nhận tâm lý tích cực; 90% doanh nghiệp có kế hoạch tiếp tục mở rộng ra thị trường quốc tế trong 03 năm tới, bất chấp môi trường hoạt động vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức, với chi phí gia tăng và bất ổn toàn cầu ngày càng lớn.
aa
Kinh tế giữ nhịp bền bỉ, Ngân hàng UOB nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2026
Vẫn còn nhiều vướng mắc cản bước doanh nghiệp Bồi đắp nội lực vượt biến động, tạo động lực cho chu kỳ tăng trưởng cao

Thuế quan và bất ổn địa chính trị vẫn đè nặng chi phí

Ngày 22/6, Ngân hàng UOB Việt Nam công bố Nghiên cứu triển vọng doanh nghiệp nửa đầu năm 2026.

Bước sang năm thứ 7 triển khai, nghiên cứu được nâng tần suất thực hiện lên 2 lần/năm, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu nhằm phản ánh kịp thời những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh kinh tế và địa chính trị toàn cầu. Nghiên cứu năm 2026 được triển khai tại 7 thị trường gồm: Singapore, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc Đại lục và Hồng Kông.

Theo nghiên cứu của UOB, 85% doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận tâm lý kinh doanh tích cực, tăng mạnh so với mức 48% trong năm 2025, khi niềm tin kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi những biến động liên quan đến chính sách thuế quan của Mỹ.

Sức bền trước
Nguồn: Nghiên cứu triển vọng doanh nghiệp nửa đầu năm 2026 của UOB.

Triển vọng trong thời gian tới vẫn rất lạc quan. Hơn 9 trong 10 doanh nghiệp kỳ vọng kết quả kinh doanh sẽ được cải thiện trong năm 2026, đồng thời dự báo tăng trưởng doanh thu sẽ mạnh mẽ hơn trong giai đoạn 2027 - 2028.

Tuy nhiên, theo báo cáo của UOB, các thách thức vĩ mô vẫn tiếp tục gây áp lực lên hoạt động doanh nghiệp. Theo đó, gần một nửa số doanh nghiệp ghi nhận chi phí gia tăng do ảnh hưởng từ thuế quan và căng thẳng địa chính trị, từ đó, cho thấy nhu cầu ngày càng cấp thiết về các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, kiểm soát chi phí và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi bền vững trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp.

Bên cạnh những quan ngại kéo dài về thương mại và địa chính trị, quản lý năng lượng đang ngày càng trở thành một ưu tiên chiến lược hàng đầu đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

“Ngay cả trước khi căng thẳng tại Trung Đông leo thang gần đây, nghiên cứu đã ghi nhận đến 96% doanh nghiệp tại Việt Nam coi trọng việc quản lý và sử dụng năng lượng hiệu quả - cao hơn đáng kể so với mức trung bình khu vực là 87%” - UOB nêu rõ.

Trước những biến động của thị trường năng lượng toàn cầu và nguy cơ gián đoạn nguồn cung, các doanh nghiệp đang áp dụng cách tiếp cận bài bản và chủ động hơn đối với việc sử dụng năng lượng.

Sức bền trước
96% doanh nghiệp tại Việt Nam coi trọng việc quản lý và sử dụng năng lượng hiệu quả. Nguồn: UOB.

Cụ thể, hơn một nửa số doanh nghiệp (55%) ưu tiên đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định và bền vững cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi 53% tập trung tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng và 47% chú trọng cắt giảm mức tiêu thụ và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

Để đạt được các mục tiêu này, các doanh nghiệp đang tăng cường đầu tư vào các giải pháp như: máy móc tiết kiệm năng lượng (43%) và năng lượng mặt trời (42%), nhằm cân bằng giữa việc quản lý chi phí và khả năng vận hành bền vững.

Song song đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, trong đó trí tuệ nhân tạo (AI) dần khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng trọng yếu. Dù việc ứng dụng vẫn đang ở giai đoạn đầu, 8 trên 10 doanh nghiệp đã bắt đầu triển khai AI.

Tuy nhiên, quá trình triển khai AI vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các rào cản chính bao gồm chi phí và hạn chế về nguồn lực tài chính (49%), những giới hạn trong giải pháp AI và hệ sinh thái đối tác (48%), cùng với những hạn chế về dữ liệu và mức độ sẵn sàng của hệ thống (47%).

Đa dạng hóa chuỗi cung ứng, ASEAN là tâm điểm

Báo cáo nghiên cứu UOB cho thấy, quản lý chuỗi cung ứng tiếp tục là ưu tiên hàng đầu khi 97% doanh nghiệp Việt Nam xem đây là yếu tố mang tầm quan trọng chiến lược. Dù các gián đoạn đã giảm bớt so với những năm trước, nhiều thách thức vẫn còn tồn tại, đặc biệt là rủi ro địa chính trị (40%) và sự phức tạp trong hoạt động mua sắm (34%). Bên cạnh đó, sự thiếu rõ ràng trong các quy định pháp lý cũng là một mối quan ngại đáng kể, ảnh hưởng đến 88% doanh nghiệp.

Để tăng cường khả năng chống chịu, các doanh nghiệp Việt Nam đang chủ động đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Theo đó, 4 trong 5 doanh nghiệp dự kiến mở rộng mạng lưới nhà cung cấp trong năm 2026, với hơn một nửa hướng tới gia tăng số lượng nhà cung cấp trong khu vực ASEAN, trong khi 23% tập trung vào nguồn cung nội địa.

Xu hướng dịch chuyển hoạt động sản xuất về các thị trường gần hơn (nearshoring) cũng đang gia tăng. Khoảng một phần ba doanh nghiệp Việt Nam có kế hoạch thiết lập hoặc mở rộng hoạt động sản xuất trong nước, trong khi nhiều doanh nghiệp cũng cân nhắc mở rộng sang khu vực ASEAN (43%), qua đó, củng cố vai trò của khu vực như một trung tâm sản xuất và chuỗi cung ứng trọng điểm.

Sức bền trước
90% doanh nghiệp có kế hoạch tiếp tục mở rộng ra thị trường quốc tế trong 03 năm tới. Nguồn: UOB.

Sự chuyển dịch này đang thúc đẩy mạnh mẽ làn sóng mở rộng ra thị trường quốc tế. Theo UOB, 7 trong 10 doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài trong năm 2025; 9 trong 10 doanh nghiệp có kế hoạch tiếp tục mở rộng trong ba năm tới. Tương tự, 80% doanh nghiệp Việt Nam dự định đầu tư ra nước ngoài trong vòng hai năm tới với quy mô đầu tư trung bình dự kiến vượt mức 28 triệu USD.

ASEAN tiếp tục là điểm đến được ưu tiên hàng đầu khi được 65% doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn cho kế hoạch mở rộng, trong đó, Thái Lan, Singapore và Indonesia là những thị trường được quan tâm nhiều nhất.

“Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn phải đối diện với nhiều thách thức, đặc biệt trong việc đáp ứng các yêu cầu pháp lý, quy định, tuân thủ và nghĩa vụ thuế (36%), tìm kiếm đối tác địa phương phù hợp (36%), cũng như tiếp cận các cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp lớn hoặc tổ chức có liên kết với Chính phủ” - báo cáo UOB nêu rõ.

Bà Phạm Như Anh - Giám đốc Khối Ngân hàng Bán buôn, Ngân hàng UOB Việt Nam chia sẻ, các doanh nghiệp Việt Nam đang cho thấy khả năng thích ứng và sức bền rất ấn tượng trong một môi trường toàn cầu ngày càng nhiều biến động.

“Chúng tôi nhận thấy một sự chuyển mình rõ rệt, không chỉ đơn thuần là phục hồi, mà đang hướng tới sự chuyển đổi mạnh mẽ, khi các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư vào năng lực số, củng cố chuỗi cung ứng và mở rộng ra khu vực ASEAN để nắm bắt cơ hội tăng trưởng dài hạn” - đại diện UOB nhìn nhận xu hướng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm Bảo Việt: Thương hiệu niềm tin của nhiều thế hệ khách hàng

Bảo hiểm Bảo Việt: Thương hiệu niềm tin của nhiều thế hệ khách hàng

(TBTCO) - Trong ngành bảo hiểm, có một sự khác biệt rất lớn giữa “doanh nghiệp dẫn đầu thị phần” và “thương hiệu dẫn đầu niềm tin”. Thị phần có thể thay đổi theo từng giai đoạn của thị trường, nhưng niềm tin là thứ chỉ được tạo dựng sau rất nhiều năm duy trì năng lực tài chính, khả năng chi trả và sự ổn định trong những thời điểm khó khăn nhất.
Dai-ichi Life Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, thúc đẩy ESG trong chu kỳ tái định hình thị trường

Dai-ichi Life Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, thúc đẩy ESG trong chu kỳ tái định hình thị trường

(TBTCO) - Sau hơn 19 năm hoạt động tại Việt Nam, Dai-ichi Life Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định và đẩy mạnh thực thi các mục tiêu ESG, khẳng định định hướng phát triển dài hạn dựa trên nền tảng tài chính vững chắc, đổi mới liên tục và trách nhiệm đồng hành cùng khách hàng, cộng đồng và nền kinh tế.
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

(TBTCO) - Trên thị trường tiền tệ tuần qua (15 - 19/6), Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh hơn 54.515,22 tỷ đồng qua kênh OMO, nâng tổng quy mô hút ròng từ đầu tháng 6 lên 106.621 tỷ đồng; dù vậy, lãi suất qua đêm quanh 4%. Trong khi đó, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm tăng 6 tuần liên tiếp, USD tự do tăng gần 300 đồng và chỉ số DXY lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.
Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực bồi thường và mức độ số hóa đang trở thành thước đo quan trọng đối với uy tín doanh nghiệp. Với Bảo hiểm PVI, hai yếu tố này không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trực tiếp định hình trải nghiệm khách hàng tại thời điểm rủi ro xảy ra.
Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

(TBTCO) - Tập đoàn Goldman Sachs đã cắt giảm dự báo giá vàng cuối năm thêm 500 USD/ounce do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không còn được kỳ vọng sẽ giảm lãi suất trong năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Kim TT/AVPL 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▲350K 13,600 ▲350K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▲350K 13,550 ▲350K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,150 ▲350K 14,650 ▲450K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,100 ▲350K 14,600 ▲450K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,030 ▲350K 14,580 ▲450K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1300K 148,500 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Miếng SJC Nghệ An 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
Miếng SJC Thái Bình 14,560 ▲140K 14,860 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,540 ▲190K 14,840 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,540 ▲190K 14,840 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,540 ▲190K 14,840 ▲140K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,030 ▲140K 14,730 ▲140K
Trang sức 99.99 14,040 ▲140K 14,740 ▲140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 ▲14K 14,862 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 ▲14K 14,863 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,455 ▲14K 1,485 ▲14K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,455 ▲14K 1,486 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲14K 147 ▼1309K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,545 ▲1387K 145,545 ▲1387K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 ▲1050K 110,411 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,062 ▼80606K 10,012 ▼89156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,329 ▲854K 89,829 ▲854K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,636 ▼67907K 8,586 ▼76457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,955 ▲584K 61,455 ▲584K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲14K 1,486 ▲14K
Cập nhật: 22/06/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17886 18160 18733
CAD 18034 18309 18924
CHF 31899 32280 32918
CNY 0 3842 3935
EUR 29491 29712 30790
GBP 33918 34308 35239
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14749 15334
SGD 19809 20091 20662
THB 714 778 831
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26442
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,122 26,122 26,442
USD(1-2-5) 25,078 - -
USD(10-20) 25,078 - -
EUR 29,664 29,688 31,030
JPY 158.52 158.81 168.02
GBP 34,162 34,254 35,352
AUD 18,102 18,167 18,810
CAD 18,224 18,283 18,912
CHF 32,194 32,294 33,168
SGD 19,956 20,018 20,758
CNY - 3,814 3,950
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.77 16.45 17.86
THB 763.72 773.15 825.31
NZD 14,758 14,895 15,300
SEK - 2,699 2,787
DKK - 3,969 4,099
NOK - 2,666 2,757
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,932.89 - 6,680
TWD 751.46 - 908.19
SAR - 6,900.47 7,252.03
KWD - 83,357 88,481
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,102 26,122 26,442
EUR 29,622 29,741 30,924
GBP 34,190 34,327 35,338
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,031 32,160 33,056
JPY 158.84 159.48 167.28
AUD 18,113 18,186 18,777
SGD 20,022 20,102 20,682
THB 780 783 818
CAD 18,236 18,309 18,863
NZD 14,854 15,387
KRW 16.47 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26442
AUD 18078 18178 19103
CAD 18199 18299 19315
CHF 32164 32194 33776
CNY 3824 3849 3984.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29695 29725 31450
GBP 34269 34319 36079
HKD 0 3355 0
JPY 159.29 159.79 170.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14875 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19977 20107 20834
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,442
USD20 26,140 26,190 26,442
USD1 23,924 26,190 26,442
AUD 18,143 18,243 19,366
EUR 29,862 29,862 31,284
CAD 18,154 18,254 19,565
SGD 20,064 20,214 20,779
JPY 159.9 161.4 166
GBP 34,184 34,534 35,669
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/06/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80