Chờ "thuyền trưởng" mới, Bảo hiểm ABIC sẽ bứt tốc?

(TBTCO) - Bảo hiểm ABIC sẽ tổ chức Đại hội cổ đông vào ngày 26/6 tới, tập trung vào kế hoạch tăng vốn và khôi phục lợi nhuận sau giai đoạn giảm tốc. Những năm gần đây, Công ty đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng bảo hiểm sức khỏe xuống dưới 70%, các tồn tại sau thanh kiểm tra chỉ ra, đặc biệt ở mảng này cũng được ABIC từng bước khắc phục.
aa
Bảo hiểm ABIC có lội ngược dòng tăng trưởng sau một năm đầy biến động? Tổng Giám đốc bất ngờ từ nhiệm trước đại hội, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu 2025 ra sao?

Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC - mã Ck: ABI) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 26/6 tới đây.

ABIC lên kế hoạch tăng vốn và hồi phục lợi nhuận sau khi giảm tốc

Trong năm 2025, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh, với doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm dự kiến đạt 2.650 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế tối thiểu 315 tỷ đồng, tăng 23% so với năm trước, tiến gần hơn tới mức đỉnh 366,4 tỷ đồng đạt được vào năm 2020. Tại đại hội, Hội đồng Quản trị sẽ trình cổ đông phương án tăng vốn điều lệ thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu, với tổng tỷ lệ phát hành 40%, nâng tổng vốn ABIC lên hơn 1.013 tỷ đồng.

Dù kế hoạch kinh doanh năm 2025 đặt ra nhiều kỳ vọng, danh tính ứng viên cho vị trí Tổng Giám đốc ABIC vẫn chưa được công bố, sau khi ông Nguyễn Hồng Phong nộp đơn từ nhiệm vào cuối tháng 5 vừa qua.

ABIC hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, với thế mạnh nổi bật ở hai mảng chủ lực là bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm xe cơ giới. Nhờ tận dụng hiệu quả mô hình bán chéo qua kênh bancassurance, ABIC được hưởng lợi lớn từ mạng lưới hơn 2.200 chi nhánh của ngân hàng mẹ phủ khắp 63 tỉnh, thành, từ vùng núi cao đến hải đảo xa xôi.

Bên cạnh mảng kinh doanh bảo hiểm, ABIC duy trì danh mục đầu tư tài chính an toàn với tổng giá trị đạt 3.248,8 tỷ đồng. Trong quý, hoạt động tài chính mang về lợi nhuận gộp 34,7 tỷ đồng, giảm 15,8% so với cùng kỳ, tương ứng với mức lợi suất đầu tư khoảng 4,8%.

Nhìn lại chặng đường 10 năm vừa qua 2016 - 2025, dữ liệu của phóng viên cho thấy, bảo hiểm sức khỏe tiếp tục là trụ cột doanh thu chủ lực của ABIC, chiếm tỷ trọng cao nhất qua các năm và đem về đều đặn trên 1.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc cho công ty từ năm 2018 - nay.

ABIC là công ty con của Ngân hàng Agribank
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo đó, từ năm 2016 - 2020, tỷ trọng nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe dao động ổn định quanh mức 71 - 74%, nhưng bắt đầu giảm nhẹ từ năm 2021 và đến quý I/2025 còn 67,48%. Dù tỷ trọng có xu hướng giảm, giá trị tuyệt đối vẫn tăng mạnh, từ 796,2 tỷ đồng năm 2016 lên 1.572,9 tỷ đồng năm 2024, tăng gần gấp đôi cả giai đoạn, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khoảng 8,88%/năm.

Doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng đều gần một thập kỷ, trừ năm 2023

Trong giai đoạn từ năm 2016 - nay, doanh thu phí bảo hiểm gốc của ABIC ghi nhận xu hướng tăng trưởng đều và ổn định, với tốc độ tăng trưởng kép CAGR khoảng 9,8%/năm, ngoại trừ năm 2023 sụt giảm 5,67%. Đây cũng là năm ABIC bổ nhiệm CEO mới. Trước đó, năm 2016 - 2019 được xem là giai đoạn tăng tốc mạnh của công ty, với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 13 - 38%. Từ năm 2020 - 2023, tốc độ tăng chậm lại.

Bảo hiểm xe cơ giới là nghiệp vụ đứng thứ hai về đóng góp doanh thu, với tỷ trọng tương đối ổn định, dao động từ 15 - 18% và đạt mức cao nhất vào quý I/2025 (18,24%). Giá trị tuyệt đối của nghiệp vụ này cũng tăng đều đặn qua các năm, từ 177,7 tỷ đồng năm 2016 lên 380,7 tỷ đồng năm 2024, với tốc độ tăng trưởng kép CAGR khoảng 10%/năm.

Các nghiệp vụ bảo hiểm khác đóng góp tỷ trọng nhỏ, chiếm từ 10 - 15% các năm. Hiện cơ cấu doanh thu của ABIC vẫn tập trung cao vào bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, tuy nhiên đang có sự dịch chuyển nhẹ, với sự nổi lên của nghiệp vụ cháy nổ và tàu thủy.

Song song với sự gia tăng doanh thu, ABIC cũng ghi nhận mức lãi tăng trưởng mạnh giai đoạn 2016 - 2020, từ 139 tỷ đồng lên 366,4 tỷ đồng, tương đương tăng gần 2,6 lần trong 5 năm. Đây là thời kỳ lợi nhuận tăng liên tiếp với mức tăng 2 chữ số. Tuy nhiên, từ năm 2021, lợi nhuận suy giảm 6,99% và tiếp tục giảm mạnh 18,87% trong năm 2022. Dù năm 2023 có sự phục hồi nhẹ với mức tăng 11,43% thì năm 2024 lại ghi nhận mức sụt giảm 16,88%, đưa lợi nhuận xuống còn 256,1 tỷ đồng, thấp nhất trong vòng 5 năm.

Tín hiệu tích cực quay trở lại trong quý I/2025 khi lợi nhuận đạt 101,1 tỷ đồng, tăng 16,9% so với cùng kỳ, một bước khởi đầu khả quan nếu xu hướng này được duy trì trong các quý tiếp theo.

Nhiều thiếu sót sau thanh kiểm tra

Trong báo cáo trình đại hội, Ban Kiểm soát ABIC cho biết, trong năm 2024, công ty tiếp nhận hai cuộc thanh, kiểm tra của các cơ quan quản lý, đó là Đoàn Kiểm toán Nhà nước theo Quyết định 488/QĐ-KTNN ngày 08/03/2024 của Tổng Kiểm toán Nhà nước. Đoàn thanh tra chuyên đề của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính theo Quyết định số 2828/QĐ-QLBH ngày 13/12/2023.

Chờ
"Thuyền trưởng" mới liệu sẽ đưa Bảo hiểm ABIC bứt tốc? Ảnh: T.L.

Kết luận thanh tra của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nêu rõ, năm 2022, ABIC triển khai phân phối 49 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ qua các tổ chức tín dụng, chủ yếu là Agribank và các Quỹ Tín dụng nhân dân tại Phú Thọ, ghi nhận tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt hơn 1.640 tỷ đồng.

Trong năm, công ty phát hành mới hơn 5,35 triệu hợp đồng bảo hiểm qua kênh bancassurance, trong đó, tỷ lệ hợp đồng bị hủy ở mức 0,04%, tương đương 1.972 hợp đồng, với tổng phí bảo hiểm hoàn trả hơn 1,35 tỷ đồng.

Kết luận tranh tra chỉ rõ nhiều thiếu sót khi triển khai các sản phẩm, đặc biệt liên quan đến bảo hiểm sức khoẻ. Chẳng hạn, với sản phẩm Bảo an chủ thẻ FLEXI, ABIC ban hành kèm theo ba điều khoản bổ sung gồm: bảo hiểm rút tiền tại ATM, bảo hiểm hành lý tư trang cá nhân và bảo hiểm giao dịch gian lận thẻ (mức khấu trừ 5% giá trị tổn thất). Tuy nhiên, các điều khoản bổ sung này không nằm trong nội dung quy tắc, điều khoản sản phẩm đã được Bộ Tài chính phê duyệt ban đầu.

"Việc Công ty ban hành và thực hiện báo cáo các quyền lợi bảo hiểm bổ sung nêu trên là sản phẩm mới triển khai là chưa phù hợp theo mẫu báo cáo quy định tại Phụ lục 12-PNT ban hành kèm theo Thông tư số 50/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính" - kết luận nêu rõ.

Thanh tra tại ABIC cũng phát hiện một số tồn tại trong quá trình triển khai sản phẩm Bảo an chủ thẻ Success, có tới 806.495 hợp đồng bảo hiểm bị ghi nhận sai lệch thông tin trên hệ thống so với giấy chứng nhận gửi khách hàng, trong đó sai về số tiền bảo hiểm (ghi 30 triệu đồng thay vì 10 triệu đồng) và điều khoản bổ sung. Ngoài ra, có 10.663 hợp đồng áp dụng sai mức phí bảo hiểm, thu 12.000 đồng/năm thay vì 28.000 đồng theo biểu phí chính thức, dẫn đến chênh lệch doanh thu hơn 512 triệu đồng.

Ngoài ra, kết luận thanh tra còn chỉ ra nhiều thiếu sót trong triển khai bảo hiểm cháy, nổ tự nguyện; Bảo An tín dụng.../.

ABIC nghiêm túc khắc phục kiến nghị sau thanh tra, kiểm toán

Trong báo cáo trình Đại hội đồng cổ đông tổ chức ngày 26/6 tới đây, Ban Kiểm soát ABIC cho biết, các đoàn kiểm toán, thanh tra đánh giá ABIC chấp hành, tuân thủ tương đối nghiêm túc các quy định của pháp luật, điều lệ công ty. Tuy nhiên, vẫn còn có một số vấn đề (không trọng yếu) cần phải chấn chỉnh khắc phục và hoàn thiện. ABIC đã nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục và chỉnh sửa kịp thời hầu hết những tồn tại đoàn kiểm toán, thanh tra đã kiến nghị trong năm 2024 ngay sau khi có kết luận kiểm tra./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, OCB lãi trước thuế 4.122,8 tỷ đồng, tăng 20,2% cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần cải thiện, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 43%, cùng việc mở rộng các giải pháp tài chính phục vụ giao thương và thanh toán quốc tế. Tổng tài sản OCB đạt 363.726 tỷ đồng cuối tháng 9, vượt kế hoạch năm.
NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

(TBTCO) - Tháng 10/2026, Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức Hội nghị khách hàng 2026 dành cho các tổ chức thành viên là các trung gian thanh toán tại Nha Trang, với chủ đề “Từ nội địa vươn ra quốc tế - Song hành mở rộng thị trường thanh toán”.
SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức công bố Khung Tài chính bền vững (Sustainable Finance Framework), được S&P Global Ratings đánh giá ý kiến độc lập (Second Party Opinion - SPO) ngày 24/09/2026. Đây là cơ sở để SeABank mở rộng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho các mục tiêu phát triển bền vững theo cam kết.
Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) tiếp tục được vinh danh trong “Top 500 Doanh nghiệp Lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2026” (PROFIT500 2026) và “Top 50 Doanh nghiệp Lợi nhuận Xuất sắc Việt Nam 2026” tại Lễ công bố Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet tổ chức và trao giải.
Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới dao động quanh 3.998 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước biến động trái chiều giữa các thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục duy trì dưới mốc 4.000 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng tiếp tục giảm 300.000 đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 140,600
Hà Nội - PNJ 137,600 140,600
Đà Nẵng - PNJ 137,600 140,600
Miền Tây - PNJ 137,600 140,600
Tây Nguyên - PNJ 137,600 140,600
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 140,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,200 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
Trang sức 99.9 13,380 ▲10K 13,980 ▲10K
Trang sức 99.99 13,390 ▲10K 13,990 ▲10K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,060
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1248K 14,202 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1248K 14,203 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cập nhật: 27/10/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17633 17906 18478
CAD 17904 18179 18795
CHF 30571 30947 31593
CNY 0 3832 3927
EUR 28232 28448 29524
GBP 33661 34049 34989
HKD 0 3162 3364
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14420 15004
SGD 19631 19912 20479
THB 681 745 798
USD (1,2) 25575 0 0
USD (5,10,20) 25613 0 0
USD (50,100) 25640 25654 26018
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,655 25,655 26,035
USD(1-2-5) 24,629 - -
USD(10-20) 24,629 - -
EUR 28,301 28,324 29,668
JPY 159.44 159.73 169.41
GBP 33,849 33,941 35,132
AUD 17,820 17,884 18,564
CAD 18,094 18,152 18,823
CHF 30,830 30,926 31,844
SGD 19,761 19,822 20,600
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,227 3,237 3,373
KRW 17.99 18.76 20.42
THB 729.41 738.42 790.48
NZD 14,399 14,533 14,963
SEK - 2,551 2,644
DKK - 3,796 3,931
NOK - 2,726 2,823
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,910.42 - 6,671.77
TWD 717.9 - 869.29
SAR - 6,767.64 7,130
KWD - 81,636 86,875
AED - 6,782 7,308
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,282 28,424 29,653
GBP 33,838 34,008 35,042
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,669 30,823 31,770
JPY 159.16 160.77 168.75
AUD 17,752 17,877 18,475
SGD 19,730 19,909 20,506
THB 734 749 786
CAD 18,052 18,179 18,776
NZD 14,461 15,018
KRW 18.84 20.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25610 25640 26030
AUD 17804 17904 18830
CAD 18085 18185 19198
CHF 30807 30837 32422
CNY 3814.7 3839.7 3975.1
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28415 28445 30167
GBP 33967 34017 35785
HKD 0 3300 0
JPY 160.38 160.88 171.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14520 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19796 19926 20649
THB 0 710.8 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,550 25,670 25,980
USD20 25,520 25,670 25,980
USD1 25,500 25,670 25,980
AUD 17,740 17,890 19,067
EUR 28,221 28,321 29,999
CAD 18,033 18,133 19,452
SGD 19,872 20,022 20,592
JPY 160.96 162.46 168.11
GBP 33,876 34,026 35,123
XAU 13,868,000 0 14,172,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/10/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30