Bảo hiểm ABIC có lội ngược dòng tăng trưởng sau một năm đầy biến động?

(TBTCO) - Sau một năm sụt giảm bởi thiên tai và biến động lãi suất, năm 2025, Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp ABIC đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 23%, tập trung vào bảo hiểm tam nông và đẩy mạnh bancassurance.
aa
Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Một công ty bảo hiểm phi nhân thọ đặt mục tiêu tăng lợi nhuận "khủng" 75% Doanh nghiệp bảo hiểm sắp chia cổ tức 15% tiền mặt, lên kế hoạch tăng vốn dài hơi Hai "ông lớn" hợp sức thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ vốn 1.300 tỷ đồng

Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC - Mã ck: ABI) vừa công bố báo cáo thường niên năm 2024.

Tập trung bảo hiểm "tam nông", đẩy mạnh bancassurance

ABIC là công ty con của ngân hàng Agribank chuyên phụ trách mảng bảo hiểm phi nhân thọ, tập trung nguồn lực vào khu vực “tam nông” nông nghiệp - nông dân - nông thôn. Được hưởng lợi từ việc bán chéo bảo hiểm qua kênh phân phối bancassurance thông qua hệ thống rộng khắp của Agribank, doanh số của ABIC tăng trưởng ổn định những năm vừa qua.

Công ty khai thác các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ như: bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp.

Trong đó, thế mạnh của ABIC là các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, với tỷ trọng chiếm áp đảo 70 - 80% và bảo hiểm xe cơ giới có tỷ trọng từ 15 - 20% những năm qua, đây cũng là hai nhóm dẫn dắt cho sự tăng trưởng của ngành bảo hiểm phi nhân thọ. Các loại bảo hiểm khác chiếm tỷ trọng doanh thu không đáng kể, chỉ dưới 5%.

Bảo hiểm ABIC có lội ngược dòng tăng trưởng sau một năm đầy biến động?
Bảo hiểm ABIC liệu có thể lội ngược dòng tăng trưởng sau một năm đầy biến động? Ảnh tư liệu.

Nỗ lực bứt tốc doanh thu và lợi nhuận

Năm 2025, công ty đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ với doanh thu kinh doanh bảo hiểm tối thiểu 2.650 tỷ đồng (tăng 9%); lợi nhuận trước thuế tối thiểu 315 tỷ đồng (tăng 23% cùng kỳ); tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu (ROE) đạt tối thiểu 15%; cổ tức dự kiến tối thiểu 14%. Các chỉ tiêu này có thể được điều chỉnh sau khi có phê duyệt từ cấp có thẩm quyền.

Tại báo cáo thường niên, Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp cho biết, năm 2025 sẽ tập trung nguồn lực phát triển kênh bancassurance và lấy khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân làm thị trường chủ đạo.

Đồng thời, tiếp tục mở rộng và phát triển kênh phân phối sản phẩm bancassurance đến các tổ chức tín dụng, phi tín dụng có đặc điểm tương đồng như: Ngân hàng chính sách xã hội; Quỹ tín dụng nhân dân...

Mục tiêu chiến lược là đưa ABIC trở thành doanh nghiệp bảo hiểm uy tín về chất lượng và phong cách phục vụ khách hàng, chuyên nghiệp trong công tác giám định tổn thất, giải quyết khiếu nại, chi trả tiền bồi thường thuận lợi, minh bạch, nhanh chóng và chính xác, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và an sinh xã hội.

Về cơ cấu cổ đông, Agribank sở hữu 37,7 triệu cổ phiếu, tương ứng 52,08%; Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia hơn 6 triệu, nắm giữ 8,55% vốn. Quỹ ngoại AFC Vietnam Fund (AFC VF Limited) giữ 4,6 triệu cổ phiếu, tương đương 6,34% vốn.

Lợi nhuận chịu tác động bởi thiên tai và biến động lãi suất

Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, rủi ro trọng yếu phát sinh từ thay đổi môi trường và thảm họa thiên nhiên. Những năm qua, Việt Nam phải chịu tổn thất lớn như bão nhiệt đới, lũ sông, mưa bão và lở đất. Bão nhiệt đới dự kiến sẽ ảnh hưởng thường xuyên đến Việt Nam với mức độ nghiêm trọng ngày càng cao và tổn thất được bảo hiểm ngày càng lớn.

Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đối mặt với nhiều thách thức, từ sự cạnh tranh khốc liệt, khách hàng ngày càng thận trọng hơn trong việc tham gia bảo hiểm, cùng với những ảnh hưởng tiêu cực từ thiên tai và các thay đổi chính sách kinh doanh, Hội đồng quản trị ABIC điều chỉnh kế hoạch kinh doanh năm 2024 vào cuối tháng 11/2024.

Theo đó, ABIC điều chỉnh giảm 9% chỉ tiêu doanh thu kinh doanh bảo hiểm so với kế hoạch, từ mức 2.634 tỷ đồng xuống còn 2.400 tỷ đồng (giảm 234 tỷ đồng). Kế hoạch lợi nhuận trước thuế tối thiểu 2024 giảm từ 320 tỷ đồng xuống còn 226 tỷ đồng, giảm 94 tỷ đồng, hay 29,4%, so với kế hoạch ban đầu. Mục tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) tối thiểu cũng giảm còn 11,8%, từ mức 15% dự kiến ban đầu.

Bảo hiểm ABIC có lội ngược dòng tăng trưởng sau một năm đầy biến động?
Lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tài chính của ABIC qua các năm. Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Vì vậy, kết thúc năm 2024, ABIC vẫn ghi nhận những kết quả khả quan. Theo đó, doanh thu kinh doanh bảo hiểm đạt 2.431 tỷ đồng, hoàn thành 101,3% kế hoạch do Hội đồng quản trị giao, tăng trưởng 18,2% so với năm 2023. Cụ thể, doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 2.301,3 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, trong khi doanh thu nhận tái bảo hiểm đạt 130,2 tỷ đồng, hoàn thành 108,5% kế hoạch, với mức tăng trưởng mạnh mẽ 115,2%.

Chi bồi thường gốc năm 2024 trên 732 tỷ đồng, cùng khoản chi bồi thường nhận tái bảo hiểm 53,3 tỷ đồng, ở mức cao trong vòng ba năm gần đây. Tính chung tổng chi trực tiếp hoạt động kinh doanh bảo hiểm lên tới 1.459 tỷ đồng, tăng 12% cùng kỳ, tương ứng cao hơn gần 160 tỷ đồng.

Do đó, dù doanh thu phí bảo hiểm gốc, doanh thu thuần đều cao hơn cùng kỳ song lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm sụt giảm 3% cùng kỳ, tương đương giảm 22,5 tỷ đồng.

Về hoạt động tài chính, tính đến cuối năm 2024, tổng số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng của công ty đạt 3.157 tỷ đồng. Doanh thu đầu tư tài chính đạt 149,9 tỷ đồng, vượt 1,3% kế hoạch, tuy nhiên giảm 13,1% so với năm trước, tương đương giảm 22,6 tỷ đồng do lãi suất tiền gửi duy trì ở mức thấp từ đầu năm 2024, tác động đến hiệu quả đầu tư tài chính.

Về hiệu quả sinh lời, ROS (tỷ suất lợi nhuận sau thuế/doanh thu) giảm xuống 8,8% trong năm 2024, thấp hơn so với mức 11,24% và 10,78% trong hai năm trước (2023 và 2022); ROE (tỷ suất lợi nhuận sau thuế/nguồn vốn chủ sở hữu) cũng giảm xuống còn 13% trong năm 2024, giảm so với mức 16,08% trong năm 2023 và 15,93% trong năm 2022./.

Lợi nhuận vượt kế hoạch nhưng “đi lùi” do thiên tai tàn phá

Sau khi trừ các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận trước thuế của ABIC đạt 256,1 tỷ đồng, hoàn thành 113,3% kế hoạch, tuy nhiên giảm 16,9% so với năm trước, tương đương giảm 51,9 tỷ đồng và là năm thứ 4 “đi lùi” về lợi nhuận. Kết quả này chủ yếu do ảnh hưởng nghiêm trọng từ thiên tai, đặc biệt là cơn bão Yagi và trận lũ lụt vào đầu tháng 9/2024 gây ra tổn thất lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

(TBTCO) - Tháng 10/2026, Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức Hội nghị khách hàng 2026 dành cho các tổ chức thành viên là các trung gian thanh toán tại Nha Trang, với chủ đề “Từ nội địa vươn ra quốc tế - Song hành mở rộng thị trường thanh toán”.
SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức công bố Khung Tài chính bền vững (Sustainable Finance Framework), được S&P Global Ratings đánh giá ý kiến độc lập (Second Party Opinion - SPO) ngày 24/09/2026. Đây là cơ sở để SeABank mở rộng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho các mục tiêu phát triển bền vững theo cam kết.
Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) tiếp tục được vinh danh trong “Top 500 Doanh nghiệp Lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2026” (PROFIT500 2026) và “Top 50 Doanh nghiệp Lợi nhuận Xuất sắc Việt Nam 2026” tại Lễ công bố Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet tổ chức và trao giải.
Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới dao động quanh 3.998 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước biến động trái chiều giữa các thương hiệu.
Bảo hiểm nhân thọ tìm sức bật sau những năm "sâu rễ bền gốc"

Bảo hiểm nhân thọ tìm sức bật sau những năm "sâu rễ bền gốc"

(TBTCO) - Bất chấp áp lực suy giảm doanh thu và thực tế 5 doanh nghiệp vẫn ngậm ngùi báo lỗ, lợi nhuận ngành bảo hiểm nhân thọ nửa đầu năm vẫn tăng tốc 137%. Nhiều doanh nghiệp nỗ lực tái cân đối toàn diện, kiên trì "sâu rễ bền gốc" từng bước củng cố nền tảng tăng trưởng dài hạn.
Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Vàng thế giới rơi dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce sau một tuần bán tháo mạnh, trong khi đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt giảm.
VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

Từ ngày 22 - 24/10, tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế về Ngân hàng và Tài chính Việt Nam 2026 (Vietnam Symposium in Banking and Finance 2026 - VSBF 2026) diễn ra, với sự phối hợp tổ chức của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Học viện Ngân hàng, Hiệp hội Quốc tế về Phát triển Kinh tế Tài chính (ISAFE) và Đại học Massey.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 140,600
Hà Nội - PNJ 137,600 140,600
Đà Nẵng - PNJ 137,600 140,600
Miền Tây - PNJ 137,600 140,600
Tây Nguyên - PNJ 137,600 140,600
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 140,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,200 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
Trang sức 99.9 13,380 ▲10K 13,980 ▲10K
Trang sức 99.99 13,390 ▲10K 13,990 ▲10K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,060
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1248K 14,202 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1248K 14,203 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cập nhật: 27/10/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17628 17901 18473
CAD 17904 18179 18794
CHF 30567 30943 31590
CNY 0 3831 3926
EUR 28231 28447 29520
GBP 33663 34051 34981
HKD 0 3162 3363
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15005
SGD 19631 19912 20477
THB 681 744 797
USD (1,2) 25569 0 0
USD (5,10,20) 25607 0 0
USD (50,100) 25634 25648 26012
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,655 25,655 26,035
USD(1-2-5) 24,629 - -
USD(10-20) 24,629 - -
EUR 28,301 28,324 29,668
JPY 159.44 159.73 169.41
GBP 33,849 33,941 35,132
AUD 17,820 17,884 18,564
CAD 18,094 18,152 18,823
CHF 30,830 30,926 31,844
SGD 19,761 19,822 20,600
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,227 3,237 3,373
KRW 17.99 18.76 20.42
THB 729.41 738.42 790.48
NZD 14,399 14,533 14,963
SEK - 2,551 2,644
DKK - 3,796 3,931
NOK - 2,726 2,823
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,910.42 - 6,671.77
TWD 717.9 - 869.29
SAR - 6,767.64 7,130
KWD - 81,636 86,875
AED - 6,782 7,308
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,282 28,424 29,653
GBP 33,838 34,008 35,042
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,669 30,823 31,770
JPY 159.16 160.77 168.75
AUD 17,752 17,877 18,475
SGD 19,730 19,909 20,506
THB 734 749 786
CAD 18,052 18,179 18,776
NZD 14,461 15,018
KRW 18.84 20.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25610 25640 26030
AUD 17804 17904 18830
CAD 18085 18185 19198
CHF 30807 30837 32422
CNY 3814.7 3839.7 3975.1
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28415 28445 30167
GBP 33967 34017 35785
HKD 0 3300 0
JPY 160.38 160.88 171.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14520 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19796 19926 20649
THB 0 710.8 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,550 25,670 25,980
USD20 25,520 25,670 25,980
USD1 25,500 25,670 25,980
AUD 17,740 17,890 19,067
EUR 28,221 28,321 29,999
CAD 18,033 18,133 19,452
SGD 19,872 20,022 20,592
JPY 160.96 162.46 168.11
GBP 33,876 34,026 35,123
XAU 13,868,000 0 14,172,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/10/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30