Tổng Giám đốc bất ngờ từ nhiệm trước đại hội, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu 2025 ra sao?

Ánh Tuyết
Tổng Giám đốc Bảo hiểm ABIC xin từ nhiệm ngay trước thềm tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025. Trong năm 2025, ABIC đặt mục tiêu doanh thu kinh doanh bảo hiểm 2.650 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế 315 tỷ đồng, tăng 23% và tiền gần mốc đỉnh. Công ty cũng dự kiến tăng vốn điều lệ vượt 1.000 tỷ đồng thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu.
aa
Bảo hiểm ABIC có lội ngược dòng tăng trưởng sau một năm đầy biến động? Sẽ sửa đổi Nghị định bảo hiểm nông nghiệp, tăng vai trò "lá chắn" trước rủi ro Bảo hiểm phi nhân thọ đón loạt chính sách mới, gỡ khó đưa doanh thu vượt 80.000 tỷ đồng

Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC - mã Ck: ABI) vừa công bố thông tin nhận được đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động của ông Nguyễn Hồng Phong - Tổng Giám đốc Bảo hiểm ABIC ngay trước thềm tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025.

Đặt mục tiêu lợi nhuận 2025 vượt 300 tỷ đồng

Trong đơn này, ông Nguyễn Hồng Phong cho biết, trong suốt 2 năm đảm nhiệm vị trí Tổng Giám đốc, ông nỗ lực cùng tập thể cán bộ công nhân viên vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, để hoàn thành nhiệm vụ, đóng góp vào thành tích chung của Công ty. Tuy nhiên, do một số lý do cá nhân, ông không thể tiếp tục đồng hành cùng Công ty.

Ông Nguyễn Hồng Phong sinh năm 06/6/1972, giữ chức vụ Tổng Giám đốc Bảo hiểm ABIC từ ngày 14/7/2023 đến nay. Trước đó, ông có thời gian dài gần 10 năm làm giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm VBI.

Bảo hiểm ABIC là một trong những doanh nghiệp tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên khá muộn, dự kiến diễn ra vào ngày 26/6 tới. Các chỉ tiêu kinh doanh năm 2025 được tính toán trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều thách thức, song nhờ lực đẩy quan trọng là dự báo GDP của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ở mức cao, kéo theo nhu cầu bảo hiểm phi nhân thọ gia tăng.

Nỗ lực tăng lãi trước thuế 23%, tiến gần mốc đỉnh năm 2020

Trong năm 2025, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh với doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 2.650 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 315 tỷ đồng (tăng 23%) và tiền gần hơn với mốc đỉnh 2020 (366,4 tỷ đồng). Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt tối thiểu 15%. Cổ tức dự kiến không thấp hơn 14%. So với tài liệu họp đại hội công bố trước đó, lần này ABIC bổ sung kế hoạch đạt doanh thu đầu tư tài chính 140 tỷ đồng, giảm 6,6% cùng kỳ.

Nhiều chuyên gia nhận định thị trường phi nhân thọ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hai con số. Năm 2025 cũng là thời điểm các công ty bảo hiểm cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trong quản lý dữ liệu và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Đây là yếu tố quyết định để ngành bảo hiểm giữ vững vị trí của mình trong bối cảnh nền kinh tế số hóa ngày càng phát triển...

Về tình hình kinh doanh quý I/2025, lợi nhuận trước thuế ABIC đạt 101,1 tỷ đồng, tăng 16,9% cùng kỳ, hoàn thành 32% mục tiêu cả năm và cao nhất trong nhiều quý gần đây.

Theo giải trình từ công ty, mức lợi nhuận tăng trên 10% chủ yếu đến từ doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng gần 100 tỷ đồng (tương đương 19,2%). Trong đó, phí bảo hiểm gốc của ABIC đạt 582 tỷ đồng, tăng 15,72% cùng kỳ. Phí nhận tái bảo hiểm cũng tăng 130,4% lên 36,8 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đà tăng trưởng đi kèm với áp lực chi phí. Chi bồi thường tăng 5,5% lên 167,9 tỷ đồng; tổng chi trực tiếp hoạt động bảo hiểm tăng 19,4%, lên 347,5 tỷ đồng. Lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 205,4, tăng 11,5%. Doanh thu từ hoạt động tài chính giảm từ 41,2 tỷ đồng xuống còn 34,8 tỷ đồng.

Tổng Giám đốc bất ngờ từ nhiệm trước đại hội, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu 2025 ra sao?
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo tờ trình thông qua báo cáo kết quả thực hiện phân phối lợi nhuận năm 2023 và phương án sử dụng, phân phối lợi nhuận năm 2024, ABIC điều chỉnh giảm lợi nhuận hơn 27 triệu đồng. Do ABIC điều chỉnh tăng lợi nhuận 2023 theo kiến nghị kiểm toán là 35,2 triệu đồng; trong năm 2024, ABIC rà soát hóa đơn có rủi ro cao theo khuyến nghị của cơ quan thuế làm lợi nhuận năm 2023 giảm đi 62,3 triệu đồng.

Như vậy, tổng lợi nhuận chưa phân phối năm 2024 của ABIC là 319,7 tỷ đồng. Công ty dự kiến chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 20%, tương đương gần 145 tỷ đồng. Sau khi cộng dồn lợi nhuận chưa phân phối từ các năm trước và trừ đi các khoản trích lập quỹ, lợi nhuận giữ lại còn lại là 114 tỷ đồng. Khoản lợi nhuận giữ lại này nhằm tăng cường năng lực tài chính, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ABIC, đồng thời đảm bảo an toàn tài chính cho những năm tiếp theo, trong bối cảnh có thể phát sinh các rủi ro bất thường.

Tăng vốn điều lệ 40%, vượt 1.000 tỷ đồng

Một điểm mới khác trong tài liệu công bố đợt này, Hội đồng quản trị ABIC trình phương án tăng vốn điều lệ thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu: trả cổ tức năm 2024 và phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu (quỹ đầu tư phát triển).

Cụ thể, ABIC sẽ phát hành 14,5 triệu cổ phiếu để chi trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu, tương đương 20% số cổ phiếu đang lưu hành, từ nguồn lợi nhuận để lại, qua đó tăng vốn điều lệ thêm gần 145 tỷ đồng. Đồng thời, Công ty dự kiến phát hành thêm 14,5 triệu cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, cũng tương đương 20% lượng cổ phiếu đang lưu hành, tiếp tục tăng vốn điều lệ thêm gần 145 tỷ đồng.

Tổng Giám đốc bất ngờ từ nhiệm trước đại hội, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu 2025 ra sao?
Tổng Giám đốc bất ngờ từ nhiệm trước đại hội, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu 2025 ra sao? Ảnh: T.L.

Triển khai hai đợt phát hành cổ phiếu để tăng vốn

ABIC trình phương án tăng vốn điều lệ thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu, với tỷ lệ 40%. Theo đó, vốn điều lệ sẽ tăng thêm gần 290 tỷ đồng, nâng lên hơn 1.013 tỷ đồng. Phương án tăng vốn điều lệ nhằm phục vụ các hoạt động kinh doanh của công ty; nâng cao năng lực tài chính, năng lực đấu thầu, tăng khả năng cạnh tranh. Thời gian phát hành dự kiến năm 2025.

Trước đó, năm 2024, trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ gặp nhiều thách thức, từ bão Yagi, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, tâm lý thận trọng của khách hàng trong việc tham gia bảo hiểm, đến ảnh hưởng từ thiên tai và thay đổi chính sách kinh doanh, Hội đồng quản trị ABIC đã quyết định điều chỉnh kế hoạch kinh doanh năm 2024 vào cuối tháng 11/2024.

Theo đó, chỉ tiêu doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh giảm 9%, trong khi lợi nhuận giảm 29,4% so với kế hoạch ban đầu. Dù vậy, kết thúc năm 2024, ABIC vẫn ghi nhận kết quả tích cực. Theo đó, doanh thu kinh doanh bảo hiểm đạt 2.431 tỷ đồng, hoàn thành 101,3% kế hoạch điều chỉnh và tăng 18,2% so với năm 2023.

Tuy nhiên, lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 694,4 tỷ đồng, giảm hơn 3% so với năm trước nhưng vẫn tiệm cận mức kỷ lục của năm 2022. Doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính đạt 149,9 tỷ đồng, vượt nhẹ kế hoạch 1,3% nhưng giảm 13,1% so với năm trước. Sau khi trừ đi các chi phí, lợi nhuận trước thuế của ABIC năm 2024 đạt 256,1 tỷ đồng, hoàn thành 113,3% kế hoạch đề ra, song vẫn giảm 16,9% so với năm trước và giảm sâu 30% so với mức kỷ lục từng đạt được từ năm 2020./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

NCB phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính tích hợp đặc quyền dành cho hội viên Sun Signature

(TBTCO) - Hơn cả một giải pháp tài chính, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang cùng đối tác chiến lược Sun Group tái định nghĩa trải nghiệm ngân hàng với tư duy đổi mới và sản phẩm tiên phong. Mỗi giải pháp ngân hàng không chỉ mang lại hiệu quả tài chính mà còn mở ra cánh cửa bước vào hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam, cùng khách hàng tận hưởng một phong cách sống tinh hoa và trọn vẹn thấu cảm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 ▼8K 1,472 ▲1324K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 ▼8K 1,473 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 ▲1270K 1,452 ▲1306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 ▼792K 143,762 ▼792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼600K 109,061 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 ▲80132K 98,896 ▲88952K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 ▼488K 88,731 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 ▼67976K 8,481 ▼76796K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 ▼334K 60,704 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17848 18122 18698
CAD 18164 18440 19062
CHF 31861 32242 32886
CNY 0 3838 3931
EUR 29448 29669 30752
GBP 34637 35029 35967
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15051 15641
SGD 19818 20100 20681
THB 697 761 814
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26432
AUD 18029 18129 19052
CAD 18347 18447 19461
CHF 32114 32144 33726
CNY 3819.1 3844.1 3979.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31403
GBP 34959 35009 36766
HKD 0 3355 0
JPY 158.36 158.86 169.38
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15160 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20838
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80