Cho vay chậm, ngân hàng vẫn ngập ngừng sợ “thả gà ra đuổi”

Chí Tín
(TBTCO) - Tín dụng những tháng đầu năm 2023 tăng chậm và các ngân hàng cũng tìm nhiều giải pháp để đẩy mạnh dòng vốn. Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu thời gian gần đây cũng cho thấy bắt đầu có những hiện tượng dòng vốn dư thừa trong ngân hàng. Tuy nhiên, rủi ro nợ xấu tiềm ẩn cũng đang là một vấn đề lớn khiến ngân hàng không thể liều lĩnh “thả gà ra đuổi”.
aa
Giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, vàng thế giới được giải tỏa áp lực Ngành Ngân hàng chú trọng triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất 2% Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng hơn có trọng tâm, trọng điểm, tiếp tục giảm lãi suất cho vay cho doanh nghiệp
Cho vay chậm, ngân hàng vẫn ngập ngừng sợ “thả gà ra đuổi”
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Văn Chung

Tín dụng tăng chậm, ngân hàng phải xoay sở

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến ngày 30/6/2023, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 12,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,73% so với cuối năm 2022. Trong khi đó, theo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (đã được điều chỉnh) được NHNN đặt ra cho cả năm 2023 vẫn là 14%. Điều này cho thấy nhiệm vụ của các ngân hàng cho giai đoạn nửa cuối năm 2023 là khá gian nan, tương đương đạt tốc độ tăng trưởng nửa cuối năm phải gấp gần 2 lần nửa đầu năm mới đạt chỉ tiêu đề ra.

Trong bối cảnh hiện tại, NHNN cũng đã yêu cầu các tổ chức tín dụng cần phải tiếp tục nghiêm túc tổ chức triển khai có hiệu quả Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 17/1/2023 của Thống đốc NHNN về các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2023. Theo đó, NHNN cho biết, sẽ tập trung thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của người dân, doanh nghiệp.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, cơ quan này sẽ có đoàn công tác đi nắm tình hình về thủ tục ở một số ngân hàng xem xét các quy định, nếu cần thiết thì chấp nhận. Nhưng những quy định tự các ngân hàng đưa ra nếu phi lý quá thì sẽ phải bãi bỏ để tạo sự tinh gọn trong thủ tục vay vốn.

Vẫn “ngại ngần” với rủi ro nợ xấu

Cho vay chậm, ngân hàng vẫn ngập ngừng sợ “thả gà ra đuổi”

Việc khơi thông tín dụng sẽ có các giải pháp hợp lý, nhưng ngân hàng vẫn đảm bảo nguyên tắc không hạ chuẩn tín dụng vì nếu hạ chuẩn thì sẽ đi cùng nợ xấu, đi cùng rủi ro bất ổn.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Cùng với tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm thời gian gần đây, lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng cũng đang trên đà giảm sâu. Cụ thể, hiện lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng chỉ còn 0,21%. Đây là mức lãi suất thấp hơn rất nhiều so với lãi suất điều hành hiện hành của NHNN.

Cụ thể, Quyết định 1123/QĐ-NHNN ngày 19/6/2022 quy định lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài 5%/năm.

Các mức lãi suất kỳ hạn khác trên thị trường liên ngân hàng cũng đang ở mức khá thấp. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần chỉ là 0,38%; kỳ hạn 2 tuần là 0,69%; kỳ hạn 1 tháng là 2,4%... Việc lãi suất liên ngân hàng giảm thấp, theo đó cũng là một tín hiệu cho thấy ngân hàng đang trong trạng thái rất dư thừa thanh khoản và vì thế nhu cầu đẩy mạnh cho vay để tối ưu hiệu quả hoạt động đang rất lớn.

Mặc dù vậy, các ngân hàng cũng đang phải đối mặt với thực trạng là phải kiểm soát an toàn hệ thống bởi rủi ro nợ xấu vẫn còn đang rình rập. Do vậy, ngân hàng cũng rất hiểu thực trạng phải đối mặt nếu “thả gà ra đuổi” thì thực tế thà chấp nhận cầm tiền vẫn tốt hơn là cho vay, nhưng đối diện rủi ro.

Ngay cả phía NHNN, ông Đào Minh Tú cũng cho biết, quan điểm của NHNN vẫn là rà soát, khuyến khích các ngân hàng cắt bỏ các thủ tục nếu không cần thiết. Nhưng thực tế với quy định cần thiết mà các ngân hàng chứng minh rằng nếu cắt bỏ các thủ tục đó mà ảnh hưởng an toàn hệ thống, làm tăng rủi ro nợ xấu thì cũng ko thể cắt bỏ được. “Theo đó, nguyên tắc cho vay trên cơ sở đảm bảo khả năng trả nợ của khác hàng” - ông Tú khẳng định.

Những lo lắng trên không phải không có căn cứ, bởi gần đây những thông tin các ngân hàng phải đăng bán tài sản cũng đang xuất hiện khá phổ biến, nhiều tài sản rao bán nhiều lần không có khách mua và phải hạ giá. Đó là những khoản nợ xấu tồn tại từ quá khứ và các ngân hàng phải thực hiện các thủ tục phát mại để thu hồi vốn.

Đặc biệt trong bối cảnh thị trường bất động sản đang tiếp tục trầm lắng kéo dài, việc phát mại các tài sản thế chấp bằng bất động sản vẫn còn khó khăn cho các ngân hàng. Do đó, các ngân hàng sẽ phải rất dè chừng với các khoản cho vay mới để tránh tình trạng nợ xấu mới phát sinh chồng lên nợ xấu cũ từ quá khứ chưa xử lý xong.

Về quan điểm của NHNN, ông Đào Minh Tú cũng cho biết, việc khơi thông tín dụng sẽ có các giải pháp hợp lý, nhưng ngân hàng vẫn đảm bảo nguyên tắc không hạ chuẩn tín dụng vì nếu hạ chuẩn thì sẽ đi cùng nợ xấu, đi cùng rủi ro bất ổn.

Thúc tiến độ cho vay nhà ở xã hội

Ngân hàng Nhà nước cho biết, đã nhận được 3 công văn công bố 15 dự án của các tỉnh Bắc Giang, Trà Vinh và Tây Ninh, trong đó có 5 dự án đã được cấp phép xây dựng. Ngoài ra, có 3 địa phương là Bình Định, Phú Thọ và Bà Rịa - Vũng Tàu đã công bố 9 dự án. Các địa phương cấp phép xây dựng các dự án cũng sẵn sàng được các tổ chức tín dụng cho vay. Đến nay đã có một số ngân hàng như BIDV, Argibank đã bắt đầu cho vay trong gói tín dụng này.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB sắp triển khai phương án tăng vốn điều lệ, thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức và chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, dự kiến huy động khoảng 8.055 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất các phương án tăng vốn này, vốn điều lệ của ngân hàng dự kiến tăng lên tối đa 100.687 tỷ đồng.
Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,450 ▼110K 13,650 ▼110K
Nguyên Liệu 99.9 13,400 ▼110K 13,600 ▼110K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,850 ▼210K 14,350 ▼210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,800 ▼210K 14,300 ▼210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,730 ▼210K 14,280 ▼210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,600 ▼50K 14,950 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,600 ▼50K 14,950 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,600 ▼50K 14,950 ▼50K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,140 ▼50K 14,840 ▼50K
Trang sức 99.99 14,150 ▼50K 14,850 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1K 15,002 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1K 15,003 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,467 ▼12K 1,497 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,467 ▼12K 1,498 ▲1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,442 ▼17K 1,477 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,238 ▼1683K 146,238 ▼1683K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,436 ▼1275K 110,936 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,096 ▼1156K 100,596 ▼1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,756 ▼1037K 90,256 ▼1037K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,768 ▼991K 86,268 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,247 ▼709K 61,747 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Cập nhật: 07/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17716 17990 18565
CAD 17966 18241 18856
CHF 31955 32336 32974
CNY 0 3828 3921
EUR 29410 29631 30708
GBP 34392 34783 35725
HKD 0 3221 3423
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14645 15235
SGD 19805 20087 20664
THB 705 768 821
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,082 26,082 26,462
USD(1-2-5) 25,039 - -
USD(10-20) 25,039 - -
EUR 29,543 29,567 30,975
JPY 157.88 158.16 167.69
GBP 34,556 34,650 35,842
AUD 17,922 17,987 18,664
CAD 18,154 18,212 18,882
CHF 32,223 32,323 33,266
SGD 19,921 19,983 20,769
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,285 3,295 3,433
KRW 15.88 16.56 18.01
THB 752.09 761.38 814.85
NZD 14,643 14,779 15,212
SEK - 2,681 2,776
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,640 2,733
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,031.01 - 6,807.86
TWD 738.6 - 894.68
SAR - 6,883.11 7,250
KWD - 83,185 88,501
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,517 29,636 30,829
GBP 34,581 34,720 35,750
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,078 32,207 33,142
JPY 158.10 158.73 166.65
AUD 17,924 17,996 18,591
SGD 19,998 20,078 20,667
THB 769 772 809
CAD 18,167 18,240 18,810
NZD 14,740 15,279
KRW 16.48 18.20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17901 18001 18923
CAD 18145 18245 19258
CHF 32194 32224 33798
CNY 3809 3834 3969.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31342
GBP 34694 34744 36505
HKD 0 3355 0
JPY 158.88 159.38 169.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14756 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19965 20095 20823
THB 0 734 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14700000 14700000 15500000
SBJ 13000000 13000000 15500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,123 26,173 26,462
USD20 26,123 26,173 26,462
USD1 26,123 26,173 26,462
AUD 17,955 18,055 19,163
EUR 29,406 29,506 31,169
CAD 18,099 18,199 19,505
SGD 20,054 20,204 20,758
JPY 159.42 160.92 166.46
GBP 34,609 34,759 35,826
XAU 14,748,000 0 15,052,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80