Đại hội XIV của Đảng: Tiền đề quan trọng từ 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế-xã hội vượt bậc, được cộng đồng quốc tế ghi nhận như một “phép màu châu Á”.
aa
Cảng biển trong hệ thống cảng Cái Mép-Thị Vài, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Ảnh: Huỳnh Sơn/TTXVN)
Cảng biển trong hệ thống cảng Cái Mép-Thị Vài, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ảnh: Huỳnh Sơn

Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng tự hào sau 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước (1986 - 2026), những thành tựu đó là tiền đề quan trọng để Việt Nam hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Theo đó, định hướng ứng dụng khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh.

Thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên

Nhìn lại kết quả sau chặng đường 40 năm Đổi mới, có thể thấy Việt Nam đã trải qua một “hành trình dài” nhiều gian nan nhưng cũng thật tự hào. Hành trình đó đã đưa Việt Nam từ một quốc gia nghèo đói, kém phát triển, trở thành một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh mẽ, với những thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến ngoại giao.

Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua của Việt Nam cũng chỉ rõ, từ một nền kinh tế nghèo nàn, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam đã dần vượt qua khó khăn, đạt mức tăng trưởng khá cao trong 10 năm đầu Đổi mới (1986-1995).

Tiếp đó, đến giai đoạn 1996-2005, tình hình đất nước đi vào ổn định; các khó khăn, thách thức dần được khắc phục. Thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên. Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP.

Từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, sản xuất trong nước đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế, tăng xuất khẩu và có dự trữ. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển nhanh. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực. Quan hệ sản xuất đã có bước đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Giai đoạn 10 năm (2006-2015), đất nước ta đã chính thức trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, chính trị-xã hội ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá, vượt qua những tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và phát triển tương đối toàn diện.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm; trong đó có 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9%. Trong giai đoạn 1991-2016, giá trị xuất khẩu tăng gấp 60,38 lần, nhập khẩu tăng 80,41 lần. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một số sản phẩm đã có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng.

Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam đã đẩy mạnh hội nhập toàn diện khi đăng cai APEC (năm 2006), gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới-WTO (năm 2007), lần đầu tiên đảm nhiệm thành công vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009), đảm nhiệm năm Chủ tịch ASEAN (năm 2010).

Đặc biệt, trong giai đoạn 10 năm (2016-2025), nền kinh tế đất nước đã có sự chuyển biến tích cực, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát luôn được kiểm soát ở mức thấp; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; nợ công giảm, nợ xấu được kiểm soát. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi nhiều biến động không thuận từ môi trường quốc tế, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2025 đạt khoảng 6,2%/năm.

Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, Giáo sư-Tiến sỹ Vũ Văn Hiền, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế-xã hội vượt bậc, được cộng đồng quốc tế ghi nhận như một “phép màu châu Á.” Những kết quả này không chỉ thể hiện qua các con số tăng trưởng, mà còn phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong đời sống người dân, trong cấu trúc xã hội và vị thế quốc gia.

Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng từ trên 100 USD (năm 1986) lên khoảng 5.000 USD (năm 2025), gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ hơn 40% xuống dưới 15% GDP, trong khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.

Theo ông Vũ Văn Phúc, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, những thành quả vĩ đại sau 40 năm Đổi mới đã tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ, xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình hình trong nước và thế giới đang chứng kiến những thay đổi nhanh chóng. Trên thế giới, những bất ổn đan xen, mang tính dài hạn và khó lường vẫn tiếp diễn trên phạm vi toàn cầu như: đứt gãy chuỗi cung ứng, lạm phát kéo dài, chính sách tiền tệ thắt chặt, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng cùng những dịch chuyển trong cấu trúc kinh tế và quan hệ quốc tế đã làm suy giảm động lực tăng trưởng, gia tăng rủi ro cho đầu tư và thương mại.

Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam, với độ mở lớn sẽ chịu tác động trực tiếp từ những biến động này, thể hiện qua áp lực lên xuất khẩu, dòng vốn đầu tư, thị trường tài chính và ổn định vĩ mô. Bên cạnh đó, các thách thức nội tại như năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, khả năng chống chịu của doanh nghiệp và yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh, bền vững càng đặt ra nhiều sức ép trong giai đoạn 2021-2030. Điều này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045.

Tạo dư địa tăng trưởng bền vững trong dài hạn

Để thích ứng với bối cảnh thế giới trong nước có nhiều thay đổi, Đảng, Chính phủ xác định, ứng dụng khoa học-công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo không chỉ là lựa chọn mang tính thời điểm, mà là định hướng chiến lược xuyên suốt nhằm nâng cao năng lực nội sinh, gia tăng sức chống chịu của nền kinh tế và tạo dư địa tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Quan điểm này được khẳng định nhất quán trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Nghị quyết 57-NQ/TW) là động lực then chốt cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nghị quyết coi phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Chuyên gia kinh tế, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm cho rằng, Nghị quyết 57-NQ/TW ra đời trong bối cảnh Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, thoát khỏi sự phụ thuộc vào các lợi thế truyền thống như lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và gia công, lắp ráp. Khi các yếu tố này dần suy giảm hiệu quả, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là “chìa khóa” để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

“Đây không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tham gia sâu hơn, chủ động hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt,” chuyên gia Nguyễn Bích Lâm nhấn mạnh.

Định hướng ứng dụng khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường, phát thải và phát triển bền vững ngày càng trở thành “hàng rào kỹ thuật” trong thương mại và đầu tư quốc tế, việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ xanh, công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng không chỉ giúp Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế, mà còn mở ra những dư địa tăng trưởng mới.

Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đến năm 2030, trở thành quốc gia đang phát triển và có công nghệ hiện đại, đến năm 2025 trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Trong bối cảnh các dư địa tăng trưởng truyền thống như khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ hay đầu tư theo chiều rộng dần thu hẹp, việc dựa vào tri thức, công nghệ và sáng tạo trở thành lựa chọn mang tính tất yếu, quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

Mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn tới, đòi hỏi năng suất lao động phải được cải thiện mạnh mẽ. Đây chính là “điểm nghẽn” mà khoa học công nghệ có thể tháo gỡ. Việc ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, công nghệ sinh học hay vật liệu mới không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, mà còn tạo ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh mới, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP. Đổi mới sáng tạo, vì vậy, không còn là câu chuyện của riêng các viện nghiên cứu hay doanh nghiệp công nghệ, mà phải trở thành dòng chảy chủ đạo trong toàn bộ nền kinh tế.

Để khoa học công nghệ thực sự trở thành “đòn bẩy” tăng trưởng, Việt Nam cần tập trung xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện trường và khu vực tư nhân. Vai trò của Nhà nước là kiến tạo thể chế, hoàn thiện khung pháp lý, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ mới. Trong khi đó, doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới, trở thành chủ thể đầu tư, ứng dụng và lan tỏa công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Đại hội XII của Đảng đề ra mục tiêu tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

Song song với đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết. Tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ đòi hỏi đội ngũ lao động có kỹ năng số, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với thay đổi. Việc đổi mới giáo dục, đào tạo, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động sẽ quyết định khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế cụ thể./.

Theo TTXVN

Đọc thêm

Đảng ủy Bộ Tài chính quán triệt Chương trình, Kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương

Đảng ủy Bộ Tài chính quán triệt Chương trình, Kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương

(TBTCO) - Ngày 25/9/2026, Đảng ủy Bộ Tài chính đã tổ chức Hội nghị quán triệt Chương trình, Kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến với quy mô lớn, kết nối từ điểm cầu trung tâm Bộ Tài chính đến hơn 300 điểm cầu tại các đảng bộ, chi bộ trực thuộc, thu hút sự tham gia của hơn 20.000 đảng viên.
Đảng bộ Bộ Tài chính nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị

Đảng bộ Bộ Tài chính nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị

(TBTCO) - Sáng 3/9/2026, Đảng bộ Bộ Tài chính tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự, chỉ đạo hội nghị.
Từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường

Từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường

(TBTCO) - Tám mươi mốt năm sau ngày Độc lập, trăn trở của Việt Nam không còn chỉ là làm thế nào để thoát nghèo, mà câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao, có năng lực tự chủ và có vị thế xứng đáng trong thế giới đang thay đổi rất nhanh.
Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới

Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới

(TBTCO) - Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới (Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22/8/2026).
Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị

Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị

(TBTCO) - Ngày 3/9, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tạo bước phát triển mới về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tạo bước phát triển mới về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

(TBTCO) - Chiều 27/8, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan cho ý kiến về sơ kết việc thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; về Đề án tăng cường, xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.
Hội nghị Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tài chính tháng 8/2026: Đánh giá toàn diện tình hình triển khai các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị

Hội nghị Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tài chính tháng 8/2026: Đánh giá toàn diện tình hình triển khai các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị

(TBTCO) - Ngày 25/8/2026, Đảng ủy Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ Đảng ủy chuyên đề tháng 8/2026 nhằm đánh giá toàn diện tình hình triển khai các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị do Bộ Tài chính chủ trì và phối hợp thực hiện. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn chủ trì hội nghị.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng PT Mexico tăng cường hợp tác, đưa quan hệ Việt Nam - Mexico lên tầm cao mới

Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng PT Mexico tăng cường hợp tác, đưa quan hệ Việt Nam - Mexico lên tầm cao mới

(TBTCO) - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, Việt Nam coi Đảng Lao động Mexico là đối tác truyền thống, tin cậy; hai bên nhất trí tăng cường hợp tác, củng cố nền tảng chính trị, góp phần đưa quan hệ Việt Nam - Mexico lên tầm cao mới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều