Đánh giá tác động tài chính khi mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế

Hà My
(TBTCO) - Tại dự thảo Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi), Bộ Y tế đề xuất mở rộng phạm vi chi trả một số dịch vụ khám chữa bệnh. Tuy nhiên, theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, cần đánh giá rõ tác động tài chính khi thực hiện mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế.
aa

Thêm nhiều quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế

Theo tờ trình xây dựng Luật Bảo hiểm y tế (BHYT - sửa đổi) của Bộ Y tế trình Chính phủ mới nhất, hiện nay một số dịch vụ y tế thuộc phạm vi khám chữa bệnh (KCB) chưa được quy định trong phạm vi hưởng BHYT như: quản lý sức khỏe, khám, chẩn đoán đánh giá nguy cơ, tình trạng sức khỏe và điều trị sớm một số bệnh, khám sức khỏe định kỳ, điều trị tật khúc xạ, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, vật tư y tế hỗ trợ trong phục hồi chức năng, dinh dưỡng điều trị.

Do đó, dự thảo luật đã đề xuất mở rộng một số quyền lợi và phạm vi chi trả cho người tham gia BHYT, như: bổ sung và điều chỉnh tăng mức hưởng BHYT của đối tượng cựu sĩ quan công an nhân dân nghỉ hưu (từ 95% lên 100%); mở rộng phạm vi chi trả BHYT đối với chế phẩm dinh dưỡng đặc biệt, tế bào gốc; chi phí điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt đối với trường hợp từ trên 6 tuổi đến dưới 18 tuổi (sửa Khoản 7 Điều 23); chi phí chi trả cho chân, tay giả; máy trợ thính (sửa Khoản 8 Điều 23) từ Quỹ BHYT lên 100% theo mức hưởng tại Khoản 14 dự thảo Luật BHYT (sửa đổi).

Đánh giá tác động tài chính khi mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế
Theo dự thảo, hoạt động khám sức khỏe cũng thuộc phạm vi chi trả các Quỹ Bảo hiểm y tế. Ảnh: Vũ Luyện

Dự thảo luật cũng đưa ra quy định mở tại Khoản 2 Điều 21: “Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm quy định nguyên tắc, tiêu chí, tỷ lệ, điều kiện, mức thanh toán đối với thuốc, hóa chất, vật tư y tế, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế, máu, khí y tế, chế phẩm dinh dưỡng đặc biệt để điều trị bệnh thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT, quy định theo lộ trình khi đủ điều kiện việc khám bệnh để đánh giá nguy cơ và điều trị ngăn ngừa sự xuất hiện, tiến triển của một số bệnh phù hợp với khả năng cân đối của Quỹ BHYT, bảo đảm hiệu quả”.

Bộ trưởng Bộ Y tế sẽ thực hiện lộ trình ưu tiên theo khả năng cân đối quỹ, việc khám bệnh, để đánh giá nguy cơ và điều trị ngăn ngừa sự xuất hiện của các bệnh lý được ưu tiên mở rộng chi trả bao gồm: ung thư cổ tử cung, ung thư vú, tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm gan C, B. Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng đề nghị bổ sung Điều 22 để điều chỉnh phạm vi mức hưởng BHYT, phù hợp với cấp chuyên môn, kỹ thuật, và giảm tỷ lệ chi trả khi KCB không đúng cấp chuyên môn kỹ thuật.

Đồng thời, bổ sung quy định người bệnh được chẩn đoán xác định đối với một số bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo, bệnh cần phẫu thuật, hoặc sử dụng kỹ thuật cao, được đến KCB tại cơ sở KCB có chuyên khoa thuộc cấp chuyên môn kỹ thuật cao hơn, hoặc một số trường hợp cấp dưới không đủ năng lực chuyên môn, sẽ được Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí KCB theo mức hưởng quy định.

Đánh giá tác động tài chính một cách toàn diện

Mở rộng quyền lợi cho người tham gia BHYT được đánh giá là điểm đột phá của dự thảo Luật BHYT (sửa đổi) lần này. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là quyền lợi mở rộng cần đi đôi với việc đảm bảo nguồn lực cho các chính sách này. Theo đánh giá, tờ trình xây dựng Luật BHYT (sửa đổi) của Bộ Y tế chưa có đánh giá tác động tài chính đến Quỹ BHYT một cách toàn diện, đầy đủ; chưa có số liệu chi tiết về cân đối thu chi quỹ đối với mỗi giải pháp chính sách, đặc biệt là về nội dung mở rộng quyền lợi theo lộ trình dự kiến.

Thống kê của BHXH Việt Nam cho thấy, từ năm 2016, Quỹ BHYT bắt đầu mất cân đối thu chi, trong đó năm 2017, tỷ lệ sử dụng quỹ lên tới 111% (bội chi 9.300 tỷ đồng). Đến năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tình trạng giãn cách xã hội kéo dài, số lượt và số chi KCB đều giảm, nhưng đến năm 2022 số chi KCB BHYT cao hơn số thu tới hơn 3.000 tỷ đồng.

Đánh giá tác động tài chính khi mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế

Hết năm 2022, ước tính tổng số tiền lũy kế của quỹ dự phòng còn 55.900 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau khi quỹ dự phòng được sử dụng để chi trả chi phí KCB (sau khi bỏ tổng mức thanh toán theo Nghị định số 75/2023/NĐ-CP và sau khi BHXH Việt Nam giải quyết các chi phí tồn đọng của giai đoạn trước năm 2021 do vướng mắc liên quan các văn bản hướng dẫn, quy định thanh toán chưa rõ ràng), quỹ dự phòng ước còn khoảng trên 40.000 tỷ đồng…

Theo các chuyên gia, với rất nhiều yếu tố gia tăng chi phí KCB BHYT liên quan đến các đề xuất mở rộng phạm vi quyền lợi KCB BHYT, yêu cầu đặt ra là phải có các giải pháp phù hợp, đảm bảo an toàn nguồn quỹ. Quỹ BHYT hiện nay có đến 40% nguồn thu từ ngân sách. Do đó, việc điều chỉnh mức đóng để tương đồng với mở rộng phạm vi hưởng BHYT là các quyết định chính sách tác động đến ngân sách nhà nước.

Vì vậy, cần đánh giá tác động tài chính đến Quỹ BHYT một cách toàn diện, đầy đủ, có số liệu chi tiết về cân đối thu chi Quỹ BHYT đối với mỗi giải pháp chính sách, đặc biệt là nội dung mở rộng quyền lợi theo lộ trình dự kiến. Việc đánh giá tác động chính sách của dự án Luật BHYT (sửa đổi) phải được thực hiện đồng thời trong mối tương quan đối với các chính sách khác ảnh hưởng đến Quỹ BHYT như: nguồn kết dư thực tế của Quỹ BHYT đến khi Luật BHYT sửa đổi có hiệu lực (dự kiến từ 1/1/2025); lộ trình kết cấu chi phí quản lý và chi phí khấu hao vào giá dịch vụ y tế; khả năng điều chỉnh tăng mức đóng.

Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ tăng chi cho việc bổ sung quyền lợi trong 3 năm đầu

Theo Bộ Y tế, giải pháp mở rộng phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT sẽ tiết kiệm chi cho Quỹ BHYT, do phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Mặc dù vậy, về mặt tiêu cực, Quỹ BHYT có tăng chi cho việc bổ sung quyền lợi trong giai đoạn 3 năm đầu khi triển khai, nhưng lại có thể bù đắp bằng việc tiết kiệm chi phí điều trị bệnh nặng, kỹ thuật cao, chi phí lớn vì chi phí điều trị thường cao hơn gấp nhiều lần chi phí chẩn đoán sớm.

Hà My

Đọc thêm

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30