Đẩy mạnh cổ phần hoá sẽ bớt nợ xấu cho ngân hàng

Dương An
Việc Chính phủ đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các DNNN sẽ tác động rất tích cực đến nền kinh tế, trong đó có tác động rõ rệt là ngăn chặn tăng nợ xấu cho lĩnh vực ngân hàng.
aa

Cổ phần hóa

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN 2014 - 2015. Ảnh TTXVN

Đây là thông tin từ Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia dẫn nguồn theo nhận định của hãng đánh giá độc lập Business Monitor International (BMI) trong Báo cáo Ngân hàng thương mại Việt Nam vừa được công bố.

Tư nhân hóa đem lại nhiều lợi ích

DNNN được BMI cho là nguồn cơn của tình trạng mất cân đối kinh tế vĩ mô tại Việt Nam trong những năm qua. Theo quan điểm của BMI, lợi ích kinh tế sẽ tăng lên nếu tốc độ cổ phần hóa các DNNN tại Việt Nam được tăng gấp 3 lần.

Các DNNN hiện vẫn chi phối một số ngành công nghiệp như đóng tàu, ngân hàng và cơ sở hạ tầng. Sau hàng chục năm hưởng ưu đãi, khích lệ và bảo hộ từ Chính phủ không giúp các DN này cạnh tranh hiệu quả được với các DN nước ngoài, mà lại để lại hậu quả là nợ xấu tăng cao trong lĩnh vực ngân hàng

Vì vậy, thúc đẩy cổ phần hóa có thể giúp giảm những rủi ro từ các khoản nợ chưa thanh toán trong lĩnh vực ngân hàng, thường là những khoản cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ.

BMI cũng nhận định các khoản chi tiêu công cho lương và trợ cấp cho các DNNN cũng góp phần đè nặng lên tài chính ngân sách thường xuyên bị thâm hụt và không thể đáp ứng nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng trong những năm qua.

Vì vậy, những nỗ lực nhằm giảm vai trò của DNNN trong nền kinh tế sẽ không chỉ giúp ngăn chặn đà tăng của nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng mà còn giải phóng các nguồn lực cho đầu tư và các lĩnh vực hiệu quả hơn như cơ sở hạ tầng và công nghệ.

Nới room thúc đẩy thị trường tài chính phát triển

Theo BMI, việc giới hạn sở hữu với các nhà đầu tư nước ngoài trong các DN tư nhân và niêm yết tại Việt Nam có thể hạn chế sự phát triển của các thị trường tài chính. Các quỹ đầu tư nước ngoài phải đối mặt với những khó khăn ngày càng tăng trong việc quản lý danh mục đầu tư của mình, đặc biệt là đầu tư vào các cổ phiếu vốn hóa lớn, khi hầu hết trong số 30 DN niêm yết lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều đã chạm, hay gần chạm giới hạn sở hữu của cổ đông nước ngoài.

Việc nới room có thể có tác động tích cực tới việc khuyến khích thanh khoản trên thị trường chứng khoán. Việc các nhà đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển của thị trường phái sinh, nơi đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư tổ chức lớn. BMI cũng nhận định đây là một nguồn doanh thu tiềm năng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam đang muốn mở rộng sang cung cấp các dịch vụ đầu tư ngân hàng và thị trường tài chính khác.

Những nỗ lực tư nhân hóa của Chính phủ Việt Nam được coi là sẽ đóng vai trò chính trong việc giúp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam. Các tập đoàn đa quốc gia đang chờ đợi nhiều vào việc thúc đẩy cải cách thị trường tự do hơn nữa của chính phủ trong những năm tới, có thể bao gồm việc mở cửa các ngành công nghiệp mà DNNN đang chi phối cho cạnh tranh nước ngoài. Thực sự, BMI chờ đợi đầu tư lĩnh vực tư nhân, nơi vốn FDI chảy vào nhiều, đóng một vai trò chủ chốt trong định hướng tăng trưởng kinh tế dài hạn tại Việt Nam.

Nhìn chung, BMI dự báo tăng trưởng GDP thực Việt Nam ở mức trung bình 6,2% trong thập kỷ tới. Các ngân hàng thương mại có thể hưởng lợi đáng kể từ việc mở rộng các dịch vụ ngân hàng để đáp ứng những nhu cầu riêng biệt của các DN nước ngoài.

Mặc dù lạc quan rằng những cải cách cơ cấu sẽ giúp tăng cường cơ sở kinh tế vĩ mô và khả năng cạnh tranh của Việt Nam, nhưng BMI cũng cho rằng những nỗ lực của Chính phủ trong cải thiện hoạt động quản lý DNNN, các chuẩn mực kế toán, và minh bạch là chưa đủ.

Tổ chức này cảnh báo, việc thiếu cải thiện trong lĩnh vực này có thể làm ảnh hưởng xấu tới tiến trình cổ phần hóa các DNNN. Đồng thời, rủi ro đầu tư vào các DN địa phương, như nợ tiềm ẩn, định giá tài sản sai, thiếu thông tin kế toán, có thể khiến các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại về danh mục đầu tư./.

Dương An

Dương An

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 30/3, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.100 đồng/USD, đi ngang so với phiên cuối tuần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,25% lên 100,15 điểm, cho thấy USD tiếp tục mạnh lên. Trong nước, tỷ giá USD tự do bật tăng 110 đồng, vượt mốc 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,090 ▲110K 17,390 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼50K 16,100 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 ▲140K 17,340 ▲140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 ▲140K 17,290 ▲140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 ▲140K 17,270 ▲140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
NL 99.90 15,770 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▼50K
Trang sức 99.9 16,570 ▲100K 17,270 ▲100K
Trang sức 99.99 16,580 ▲100K 17,280 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 ▲10K 17,382 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 ▲10K 17,383 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 ▲10K 1,736 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 ▲10K 1,737 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 ▲10K 1,721 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 ▲990K 170,396 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 ▲750K 129,238 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 ▲68K 11,719 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 ▲610K 105,141 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 ▲583K 100,494 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 ▲417K 71,923 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cập nhật: 30/03/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17522 17794 18371
CAD 18392 18669 19284
CHF 32270 32653 33298
CNY 0 3470 3830
EUR 29649 29921 30950
GBP 34064 34454 35387
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14760 15351
SGD 19879 20161 20689
THB 717 780 834
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,794 29,818 31,049
JPY 160.23 160.52 169.16
GBP 34,307 34,400 35,364
AUD 17,755 17,819 18,380
CAD 18,591 18,651 19,217
CHF 32,572 32,673 33,431
SGD 20,019 20,081 20,746
CNY - 3,776 3,894
HKD 3,293 3,303 3,420
KRW 16 16.69 18.06
THB 765.72 775.18 824.36
NZD 14,798 14,935 15,280
SEK - 2,735 2,815
DKK - 3,987 4,102
NOK - 2,655 2,732
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,116.77 - 6,864.71
TWD 742.59 - 894.09
SAR - 6,895.92 7,218.79
KWD - 83,461 88,258
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17684 17784 18710
CAD 18591 18691 19706
CHF 32529 32559 34145
CNY 3743.7 3768.7 3904.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29831 29830 31586
GBP 34371 34421 36174
HKD 0 3355 0
JPY 161.1 161.6 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14868 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20044 20174 20895
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16840000 16840000 17140000
SBJ 15000000 15000000 17140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80