Điện tử hóa hoạt động ngân hàng bị “trói” bởi luật chậm thay đổi

Chí Tín
(TBTCO) - Hoạt động chuyển đổi số ngành Ngân hàng đang có khoảng vênh khá lớn về thực tiễn công nghệ và quy định pháp luật liên quan. Điều này khiến cho nhiều ngân hàng vẫn rất dè dặt trong việc đưa ra các dịch vụ mới trong ứng dụng công nghệ, do lo sợ các rủi ro pháp lý.
aa

Quy định đã có, nhưng chưa đủ

Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng điện tử được quy định tại một số văn bản pháp luật như: Luật Các tổ chức tín dụng, Nghị định 35/2007/NĐ-CP của Chính phủ (về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng) và các thông tư của Ngân hàng Nhà nước quy định về phạm vi hoạt động ngân hàng điện tử, quản lý rủi ro hoạt động ngân hàng điện tử. Các văn bản này cũng đã có các quy định về tiêu chuẩn an toàn hệ thống công nghệ thông tin, quy định về bảo mật an toàn đối với hoạt động ngân hàng trên internet, các quy định về định danh, xác thực khách hàng và các quy định cụ thể đối với từng hoạt động dịch vụ được cung cấp trên phương tiện điện tử (mở tài khoản, thanh toán, thẻ, ATM, mua bán ngoại tệ, phát hành giấy tờ có giá, cấp tín dụng)…

Điện tử hóa hoạt động ngân hàng bị “trói” bởi luật chậm thay đổi

Việt Nam được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng, cơ hội cho phát triển ngân hàng số do cơ cấu dân số trẻ và số lượng người sử dụng thiết bị thông minh lớn.

Ngoài các văn bản pháp luật chuyên ngành, hệ thống pháp luật chung cũng đã có khuôn khổ pháp lý điều chỉnh giao dịch thông qua phương tiện điện tử như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Giao dịch điện tử 2005, Luật An ninh mạng 2018, Luật Công nghệ thông tin 2006, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và rất nhiều các nghị định, thông tư hướng dẫn các luật này.

Tuy nhiên, trong quá trình thực thi quy định pháp luật về ngân hàng điện tử, các tổ chức tín dụng phát sinh nhiều vướng mắc và theo đó giới ngân hàng đang kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần có giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện cho sự thích ứng linh hoạt và phát triển của ngành Ngân hàng trong cuộc cách mạng 4.0.

Ông Nguyễn Thành Long, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế ngân hàng, Phó Tổng giám đốc VPBank cho biết, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng điện tử đã có nhưng cùng với thời gian, có những sự phát triển mới về mặt công nghệ và các loại hình dịch vụ mới liên quan đến lĩnh vực ngân hàng. Do đó, các quy định pháp luật đang bộc lộ một số bất cập cần được hoàn thiện mới bảo đảm bám sát xu hướng mới của hoạt động ngân hàng điện tử. Đó là vấn đề về định danh, xác thực khách hàng, xác thực giao dịch; chữ ký điện tử, giao dịch điện tử, dữ liệu điện tử; trích lập và xử lý dự phòng rủi ro…

Mập mờ đúng sai

Quy định pháp luật đang có một khoảng trễ so với thực tế phát triển của công nghệ ngân hàng, trong khi một số nội dung chưa được quy định rõ ràng khiến cho cùng một vấn đề, có thể hiểu cách khác nhau. Điều này khiến ngân hàng tỏ ra dè dặt trong việc ứng dụng công nghệ để phát triển dịch vụ.

Bà Nguyễn Thị Phương, Giám đốc Ban pháp chế Ngân hàng BIDV đưa ra ví dụ, chẳng hạn công nghệ OTP (mật khẩu dùng 1 lần - One Time Password) có thể coi là một dạng chữ ký số hay không vẫn chưa được phân định rõ ràng. Về mặt công nghệ, các chuyên gia công nghệ đều thừa nhận OTP hoàn toàn có thể hiểu là một dạng chữ ký số sử dụng trong ngành khoa học bảo mật. Tuy nhiên, pháp lý chưa có quy định cụ thể nào thừa nhận việc này, điều này sẽ gây rủi ro rất lớn cho ngân hàng về mặt pháp lý nếu xảy ra tranh chấp trên phương diện pháp luật.

Ngoài ra, trong công nghệ ngân hàng, định danh khách hàng là một yếu tố vô cùng quan trọng để đảm bảo lành mạnh hệ thống ngân hàng, phòng ngừa rủi ro gian lận, rửa tiền, lừa đảo. Hiện nay, các điều kiện về kỹ thuật đã cho phép ngân hàng định danh khách hàng bằng nhiều biện pháp kết hợp an toàn, xác định chính xác giấy tờ tùy thân kết hợp với các yếu tố nhận diện sinh trắc học: vân tay, mống mắt, giọng nói, khuôn mặt…

Tuy nhiên, việc định danh khách hàng bằng phương thức điện tử chỉ áp dụng để định danh khách hàng trong hoạt động phòng chống rửa tiền và mở tài khoản thanh toán, chưa được áp dụng chung cho các hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng. Các thông tư của Ngân hàng Nhà nước quy định các hoạt động nghiệp vụ khác chưa quy định về việc định danh khách hàng. Đặc biệt, Thông tư 01/2021/TT-NHNN về phát hành giấy tờ của tổ chức tín dụng vẫn còn quy định phải phát hành “trực tiếp” tại địa điểm mạng lưới của tổ chức tín dụng.

Ngoài ra, một thực tế phát sinh khác vẫn còn tồn tại khoảng trống pháp lý là việc sử dụng dữ liệu của bên thứ ba đáng tin cậy. Cụ thể, trong nghiệp vụ của mình, ngân hàng có thể định danh khách hàng dựa trên việc khai thác thông tin đã được định danh tại bên thứ 3 (có các tiêu chuẩn tương đương như các ngân hàng đại lý, tổ chức tín dụng, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính như chứng khoán, bảo hiểm); hoặc việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, dịch vụ công, công ty viễn thông, điện, nước…. Tuy nhiên, việc này cũng đối mặt “khoảng trống” pháp lý bởi Ngân hàng Nhà nước cũng vẫn chưa có quy định rõ ràng và cơ chế triển khai đối với loại nghiệp vụ này.

Rà soát các tồn tại, hạn chế trong quy định pháp luật để hoàn thiện

Bà Vũ Ngọc Lan, Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, sau khi Luật Giao dịch điện tử được ban hành, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với các cơ quan liên quan ban hành nghị định, thông tư theo thẩm quyền. Thời gian vừa qua, Ngân hàng Nhà nước cũng đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan trong vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước đã có báo cáo về rà soát, nhận diện các tồn tại, hạn chế của quy định pháp luật trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong các văn bản quy phạm pháp luật để kiến nghị với Quốc hội và các bộ, ngành liên quan để sửa đổi các quy định cho phù hợp với thực tiễn.

Chí Tín

Đọc thêm

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa công bố tuyên bố chung về tiền tệ với Bộ Tài chính Hoa Kỳ, trong đó, hai bên tái khẳng định cam kết tránh thao túng tỷ giá hoặc hệ thống tiền tệ quốc tế. Các biện pháp vĩ mô hay kiểm soát dòng vốn không nhằm vào tỷ giá để phục vụ mục đích cạnh tranh.
Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 30/5, tỷ giá trung tâm hiện ở mức 25.139 đồng, tăng 2 đồng so với phiên trước và tăng tổng cộng 5 đồng cả tuần qua. Chỉ số DXY chốt tuần ở 98,92 điểm, giảm 0,32% và mất mốc tâm lý 99 điểm khi kỳ vọng ngừng bắn tại Trung Đông, cải thiện tâm lý ưa rủi ro, qua đó, làm suy giảm nhu cầu nắm giữ đồng USD và các tài sản trú ẩn an toàn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 43 USD/ounce, lên mức 4.538 USD/ounce. Sáng 30/5, giá vàng trong nước tiếp tục tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến lên quanh ngưỡng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
Kim TT/AVPL 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 14,550 ▲50K 14,750 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 14,500 ▲50K 14,700 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,200 ▲50K 15,600 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,150 ▲50K 15,550 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,080 ▲50K 15,530 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 156,000 ▲500K 159,000 ▲500K
Hà Nội - PNJ 156,000 ▲500K 159,000 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 156,000 ▲500K 159,000 ▲500K
Miền Tây - PNJ 156,000 ▲500K 159,000 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 156,000 ▲500K 159,000 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 156,000 ▲500K 159,000 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,600 ▲50K 15,900 ▲50K
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,090 ▲50K 15,790 ▲50K
Trang sức 99.99 15,100 ▲50K 15,800 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 156 ▼1399K 15,902 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 156 ▼1399K 15,903 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,558 ▲5K 1,588 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,558 ▲5K 1,589 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,538 ▲5K 1,573 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 149,243 ▲495K 155,743 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 109,237 ▲375K 118,137 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 98,225 ▲340K 107,125 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 87,213 ▲305K 96,113 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,965 ▲291K 91,865 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,851 ▲209K 65,751 ▲209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 ▼1399K 159 ▼1426K
Cập nhật: 30/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18361 18636 19213
CAD 18535 18812 19430
CHF 33019 33405 34057
CNY 0 3847 3940
EUR 30037 30311 31344
GBP 34603 34996 35934
HKD 0 3226 3429
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15443 16028
SGD 20061 20344 20872
THB 723 786 842
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26395
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,395
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,185 30,209 31,517
JPY 160.99 161.28 170.29
GBP 34,795 34,889 35,942
AUD 18,527 18,594 19,218
CAD 18,755 18,815 19,425
CHF 33,213 33,316 34,153
SGD 20,213 20,276 20,985
CNY - 3,820 3,949
HKD 3,297 3,307 3,431
KRW 16.13 16.82 18.22
THB 772.31 781.85 833.27
NZD 15,364 15,507 15,900
SEK - 2,802 2,888
DKK - 4,039 4,164
NOK - 2,797 2,883
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,214.15 - 6,983.75
TWD 758.63 - 915.14
SAR - 6,905.73 7,242.67
KWD - 83,643 88,617
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,115 26,135 26,395
EUR 30,113 30,234 31,425
GBP 34,770 34,910 35,930
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 33,019 33,152 34,100
JPY 161.43 162.08 169.44
AUD 18,503 18,577 19,173
SGD 20,270 20,351 20,941
THB 789 792 827
CAD 18,755 18,830 19,406
NZD 15,418 15,960
KRW 16.80 18.44
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26395
AUD 18476 18576 19501
CAD 18694 18794 19806
CHF 33197 33227 34810
CNY 3826.2 3851.2 3986.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30171 30201 31924
GBP 34787 34837 36595
HKD 0 3355 0
JPY 161.61 162.11 172.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20199 20329 21057
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,046 26,046 26,395
USD20 26,046 26,046 26,395
USD1 26,046 26,046 26,395
AUD 18,507 18,607 19,799
EUR 30,297 30,297 31,705
CAD 18,644 18,744 20,051
SGD 20,279 20,429 20,990
JPY 162.12 163.62 168.15
GBP 34,668 35,018 35,882
XAU 15,548,000 0 15,852,000
CNY 0 3,736 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80