Động thái hạ lãi suất của FED rõ ràng hơn, tỷ giá USD/VND đồng loạt hạ nhiệt

Thái Duy
(TBTCO) - Lãnh đạo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tái khẳng định, đã đến lúc phải điều chỉnh chính sách lãi suất khi lạm phát tiến dần về mục tiêu dài hạn. Điều này khiến chỉ số DXY giảm tiếp sang tuần thứ 3. Diễn biến thị trường quốc tế kết hợp với các yếu tố thuận lợi trong nước đã giúp tỷ giá USD/VND hạ nhiệt đồng loạt.
aa

Đồng USD giảm liên tiếp, hỗ trợ tốt cho tỷ giá trong nước

Tín hiệu giảm lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã rõ ràng hơn tại Hội nghị thường niên của các nhà ngân hàng trung ương tại Jackson Hole, Wyoming. Chủ tịch FED Jerome Powel về cơ bản đã tuyên bố rằng, cuộc chiến chống lạm phát của FED đã kết thúc và việc bảo vệ việc làm hiện là ưu tiên hàng đầu của cơ quan này. Trích dẫn dữ liệu kinh tế ngày càng cho thấy lạm phát đang yếu đi, trong khi rủi ro đối với thị trường lao động gia tăng, Chủ tịch FED Jerome Powel nhấn mạnh: "Đã đến lúc chính sách phải điều chỉnh".

Giới phân tích đánh giá rằng, đó là một tín hiệu mạnh mẽ cho thấy FED sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất tại cuộc họp chính sách diễn ra trong hai ngày 17 - 18/9.

Theo chuyên gia của VNDIRECT, mặc dù gần như chắc chắn là FED sẽ tiến hành cắt giảm lãi suất trong cuộc họp tháng 9 tới (điều đã được phản ánh vào giá), thì mối quan tâm lớn hiện nay của thị trường là mức độ và cường độ cắt giảm của FED trong giai đoạn cuối năm nay. Hiện thị trường đang kỳ vọng FED có thể cắt giảm khoảng 0,75 - 1 điểm % lãi suất điều hành từ nay tới cuối năm. Tuy vậy, nếu FED đưa ra một kế hoạch thận trọng hơn thì có thể sẽ có những tác động làm điều chỉnh kỳ vọng của nhà đầu tư và thị trường.

Chỉ số DXY tiếp tục giảm mạnh trong hai phiên đầu tuần này. Vào thời điểm 11h ngày 27/8, chỉ số DXY đang dao động ở mức 100,86 điểm, thậm chí phiên trước (26/8), chỉ số này còn giảm sâu hơn, quanh mức 105 điểm. Đây là mức rất thấp của chỉ số này trong nhiều tháng qua.

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần qua (19 – 23/8) của SSI Research cũng cho rằng, trong tuần trước, tâm điểm đến từ phát biểu của Chủ tịch FED tại Hội nghị Jackson Hole, trong đó ông Jerome Powel tiếp tục khẳng định đã đến lúc phải điều chỉnh chính sách lãi suất khi lạm phát đang tiến dần về mức mục tiêu dài hạn là 2,0% trong khi rủi ro trên thị trường lao động tăng dần. Hiện tại, thị trường đang đánh giá khả năng cao hơn là FED sẽ giảm 25 điểm cơ bản trong kỳ họp tháng 9 tới đây và tổng mức giảm cho năm 2024 là 100 điểm cơ bản.

Động thái hạ lãi suất của FED rõ ràng hơn, tỷ giá USD/VND đồng loạt hạ nhiệt
Diễn biến chỉ số DXY trong vòng 1 tháng qua. Nguồn: vn.tradingview.com

Tính tới hết tuần qua, chỉ số DXY tiếp tục giảm tuần thứ 3 liên tiếp và giảm tới 1,7% trong tuần và các đồng tiền khác đều tăng giá mạnh so với USD như: GBP (+1,4%), JPY (+1,1%), EUR (+0,8%) hay các đồng tiền trong khu vực Châu Á như THB (+2,0%), KRW (+1,0%). Đáng chú ý, tính từ đầu năm tới nay, một số đồng tiền châu Á đã đảo chiều tăng giá so với USD như: MYR (4,8%), SGD (1,4%), THB (+0,9%).

Thống kế trên thị trường, chỉ số DXY tiếp tục giảm mạnh trong hai phiên đầu tuần này. Vào thời điểm 11h ngày 27/8, chỉ số DXY đang dao động ở mức 100,86 điểm, thậm chí phiên trước (26/8), chỉ số này còn giảm sâu hơn, quanh mức 105 điểm. Đây là mức rất thấp của chỉ số này trong nhiều tháng qua.

Trên thị trường ngoại hối trong nước tuần qua, báo cáo từ SSI Research cho biết, tương đồng với diễn biến trong khu vực, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá tự do đều đồng loạt hạ nhiệt đáng kể so với tuần kế trước đó, và thu hẹp mức tăng so với cuối năm 2023 xuống chỉ còn 2,9%.

Trong đó, tỷ giá liên ngân hàng đã giảm về dưới 25.000 đồng trong khi chênh lệch giữa tỷ giá thị trường tự do và niêm yết tại các ngân hàng thương mại gần như không đáng kể. Trong khi đó, cán cân thương mại duy trì thặng dư trong nửa đầu tháng 8, đưa tổng mức thặng dư từ đầu năm tới nay lên tới hơn 15 tỷ USD.

Động thái mới từ lãi suất tín phiếu

Theo các chuyên gia của SSI Research, thanh khoản hệ thống tương đối cân bằng trong tuần qua và Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ trên kênh thị trường mở, với tổng khối lượng là 1,3 nghìn tỷ đồng.

Động thái hạ lãi suất của FED rõ ràng hơn, tỷ giá USD/VND đồng loạt hạ nhiệt

Cụ thể, cả việc phát hành mới trên kênh mua kỳ hạn (38,4 nghìn tỷ đồng) hay tín phiếu (22 nghìn tỷ đồng) đều chủ yếu nhằm đáp ứng khối lượng đáo hạn. Chốt tuần, khối lượng lưu hành trên kênh mua kỳ hạn là 38,4 nghìn tỷ đồng và kênh tín phiếu là 46,8 nghìn tỷ đồng.

“Đáng chú ý, lãi suất trên kênh tín phiếu điều chỉnh giảm xuống 4,15% từ mức 4,25%. Điều này phản ánh tính linh hoạt trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước khi áp lực tỷ giá hạ nhiệt” – Chuyên gia của SSI Research cho hay.

Trong khi đó, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm giao dịch trong biên độ hẹp (4,4% - 4,6%) xuyên suốt tuần qua. Khối lượng giao dịch không có nhiều thay đổi so với tuần trước đó, ở mức 285 nghìn tỷ đồng/phiên./.

Thái Duy

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 30/4 không ghi nhận biến động mới, khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ giá, giao dịch trong vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 166,000
Hà Nội - PNJ 163,000 166,000
Đà Nẵng - PNJ 163,000 166,000
Miền Tây - PNJ 163,000 166,000
Tây Nguyên - PNJ 163,000 166,000
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 166,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 16,600
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,790 16,490
Trang sức 99.99 15,800 16,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 04/05/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/05/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80