Dự báo lợi nhuận phân hoá, ngân hàng nào vẫn giữ phong độ?

(TBTCO) - Ba quý của năm 2022 đã qua đi, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn trước bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường nhưng bức tranh ngân hàng Việt Nam được đánh giá có nhiều điểm sáng.
aa

Trung tâm phân tích Chứng khoán SSI (SSI Research) vừa có báo cáo ước tính kết quả kinh doanh quý III/2022 của 26 công ty trong phạm vi nghiên cứu. Trong đó, nhóm phân tích dự báo lợi nhuận nhóm ngân hàng vẫn tăng trưởng mạnh trong quý III vừa qua, bất chấp lãi suất tăng gây áp lực lên NIM (sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng).

Cụ thể, SSI Research dự báo lợi nhuận quý III/2022 của Vietcombank sẽ đạt 7.400 - 7.600 tỷ đồng, tăng 29 - 33% so với cùng kỳ. Với BIDV, SSI Research dự báo ngân hàng có thể ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý III đạt khoảng 6.000 tỷ đồng, tăng 120% so với cùng kỳ nhờ được thúc đẩy bởi tăng trưởng dư nợ tín dụng và số dư huy động lần lượt là 10,5% và 2% so với đầu năm, đi cùng NIM ổn định so với quý trước.

Trong khi đó ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, SSI Research dự kiến lợi nhuận trước thuế 9 tháng của MB đạt khoảng 18.000 - 18.500 tỷ đồng, tăng 50 - 60% so với cùng kỳ. Tăng trưởng dư nợ tín dụng và số dư huy động của MB được dự báo lần lượt đạt 17% và 8% so với đầu năm tại thời điểm cuối tháng 9.

Song ở khối này, LienVietPostBank mới thực sự là nhân tố tạo nên bất ngờ khi ngân hàng có sự bứt phá mạnh mẽ trong kết quả kinh doanh. Kết thúc quý III/2022, LienVietPostBank đã cán đích lợi nhuận trước thuế của cả năm 2022, thậm chí nhỉnh hơn chút khi đạt hơn 4.800 tỷ đồng.

Tại kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý IV/2022 của các tổ chức tín dụng do Vụ Dự báo thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành mới đây cho thấy, đa phần ngân hàng vẫn kỳ vọng lợi nhuận cải thiện năm nay. Theo đó, 70,4 - 75,9% tổ chức tín dụng kỳ vọng tình hình kinh doanh cải thiện hơn trong quý IV/2022. Lợi nhuận trước thuế trong năm 2022 được 88,3% tổ chức tín dụng dự kiến tăng trưởng dương so với năm 2021.

Dự báo lợi nhuận phân hoá, ngân hàng nào vẫn giữ phong độ?
Kết thúc quý III/2022, LienVietPostBank đã cán đích lợi nhuận trước thuế của cả năm 2022 thậm chí nhỉnh hơn chút khi đạt hơn 4.800 tỷ đồng

Tuy ghi nhận những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, nhưng giới chuyên gia đánh giá, triển vọng lợi nhuận ngành Ngân hàng trong giai đoạn tới sẽ gặp khó và có sự phân hóa khá cao. Trong báo cáo cập nhật về ngành mới phát hành, Bộ phận phân tích chứng khoán Agribank (Agriseco Research) dự báo, lợi nhuận ngành Ngân hàng trong năm 2022 và 2023 sẽ khó duy trì tăng trưởng cao như giai đoạn 2020 - 2021. Động lực tăng trưởng của các ngân hàng bị suy giảm hơn khi dư địa tăng trưởng tín dụng không còn nhiều và NIM chịu áp lực do lãi suất đầu vào có xu hướng tăng trong khi lãi suất cho vay khó tăng theo tương ứng.

Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý IV/2022 của các tổ chức tín dụng của Vụ Dự báo thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, vẫn có 6,8% tổ chức tín dụng dự kiến lợi nhuận tăng trưởng âm trong năm 2022 và 4,9% ước tính lợi nhuận không thay đổi.

Agriseco Research cho rằng, để đạt được kế hoạch đặt ra đầu năm, các ngân hàng có thể phải có những giải pháp riêng như cơ cấu lại vốn tín dụng (đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, tăng thu hồi nợ…) và tăng thu ngoài lãi. Việc tập trung bán lẻ sẽ tiếp tục là mũi nhọn trong năm 2022 giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro tập trung và NIM cao hơn so với các khách hàng lớn. Thị trường bancassurance dự báo sẽ tiếp tục sôi động và là một động lực quan trọng giúp thúc đẩy lợi nhuận của các ngân hàng. Như vậy, ngân hàng nào có lợi thế lớn ở mảng miếng này, hoạt động kinh doanh cũng khả năng sinh lời vẫn tiếp tục được duy trì ổn định.

Chẳng hạn như LienVietPostBank, thu nhập lãi thuần của ngân hàng này tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước nhờ tín dụng bán lẻ tăng trưởng cao cùng với các khoản thu lãi khoản vay cơ cấu Covid-19 của các khách hàng đã khôi phục hoạt động kinh doanh…

Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng này cũng tăng mạnh đạt hơn 779 tỷ đồng (cùng kỳ đạt 546 tỷ đồng) khi kết thúc quý III/2022 nhờ phát triển các dịch vụ trọng tâm như bảo hiểm, thanh toán quốc tế, ngân hàng số. Ngân hàng khai thác hiệu quả lợi thế mạng lưới rộng lớn khắp toàn quốc và cung ứng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu nhiều phân khúc khách hàng.

Cũng cần lưu ý, hiện LienVietPostBank chưa có thỏa thuận độc quyền phân phối bảo hiểm, trong khi ngân hàng sở hữu lợi thế quan trọng là mạng lưới phủ rộng cả nước. Theo đó, có thể kỳ vọng ngân hàng này sẽ có nguồn thu đột biến, nếu không trong năm nay thì là những năm tới.

Bên cạnh lợi thế về mạng lưới phòng giao dịch, LienVietPostBank cũng đang đẩy mạnh số hóa, nâng cao trải nghiệm người dùng. Đây sẽ là cơ sở giúp ngân hàng tăng trưởng mạnh mảng bán lẻ để có biên lợi nhuận cao hơn trong thời gian tới. Thực tế ngân hàng này đang bắt đầu hái trái ngọt từ hoạt động chuyển đổi số. Tháng 8/2022, ngân hàng nhận tới 5 giải thưởng lớn về kinh doanh thẻ quốc tế. Và tiếp tục nhận giải thưởng lớn “Doanh nghiệp xuất sắc châu Á 2022” (Corporate Excellence Award 2022) vào tháng 10/2022.

Lãnh đạo LienVietPostBank cho biết, những kết quả trên là minh chứng cho các định hướng phát triển của LienVietPostBank là đúng đắn, giúp ngân hàng không chỉ gặt hái thành công trong kinh doanh mà còn khẳng định vị thế, uy tín trên thị trường tài chính.

Đáng chú ý, số dư trái phiếu doanh nghiệp tại LienVietPostBank đến thời điểm hiện tại là bằng 0. Đối với danh mục đầu tư trái phiếu. Ngân hàng chủ yếu nắm giữ trái phiếu chính phủ và một phần nhỏ trái phiếu của các tổ chức tín dụng có rủi ro rất thấp. Điều này tạo dư địa tăng trưởng tín dụng cũng như hạn chế tác động đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, bền vững khi mà thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đây là những lợi thế có thể tạo ra sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới./.

Tài Tâm

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Hà Nội - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đà Nẵng - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Miền Tây - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Tây Nguyên - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Nghệ An 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Thái Bình 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 ▼17K 14,492 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 ▼17K 14,493 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 ▼17K 1,444 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 ▼17K 1,445 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▼17K 1,434 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼123165K 14,198 ▼129465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▼1275K 107,711 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▼1156K 97,672 ▼1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲69946K 87,633 ▲78766K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▼991K 83,761 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▼709K 59,954 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cập nhật: 22/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,723 25,843 26,210
USD20 25,693 25,843 26,210
USD1 25,673 25,843 26,210
AUD 18,211 18,311 19,418
EUR 29,166 29,266 30,925
CAD 18,140 18,240 19,547
SGD 20,088 20,238 20,792
JPY 162.03 163.53 169.08
GBP 34,182 34,332 35,394
XAU 14,308,000 0 14,612,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30