Dự báo tỷ giá khó bình lặng năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tưởng chừng xu hướng nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ hơn khi nhiều ngân hàng trung ương lớn trên thế giới hạ lãi suất khiến điều hành tỷ giá dễ thở hơn. Tuy nhiên, còn nhiều ẩn số năm 2025 khiến xu hướng này không dễ đoán định, thậm chí, các chuyên gia để ngỏ khả năng điều hành chính sách tiền tệ sẽ đảo chiều, thay vì tiếp tục kiên trì xu hướng nới lỏng.
aa
Dự báo tỷ giá khó bình lặng năm 2025
Biểu đồ tư liệu

Ứng phó khi tình thế xoay chuyển

Những tháng cuối năm 2024, giá bán USD tại ngân hàng thường neo ở mức kịch trần, tính đến giữa tháng 12/2024 đã tăng gần 4,4% so với đầu năm. Nhiều yếu tố bất ổn khiến Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải áp dụng nhiều biện pháp nhằm điều tiết tỷ giá.

Điều hành tỷ giá linh hoạt

Mặc dù thị trường tài chính thế giới có nhiều biến động nhưng tỷ giá USD/VND cơ bản diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, thị trường ngoại tệ duy trì ổn định, thanh khoản thị trường thông suốt. Một số giai đoạn, đồng tiền của nhiều nước trong khu vực biến động rất mạnh nhưng mức mất giá của VND so với USD phù hợp và tương đối ổn định.

Theo đó, NHNN phải bán can thiệp ngoại tệ trên thị trường kiểm soát đà mất giá của tiền đồng và sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ cũng như các biện pháp quản lý ngoại hối ổn định thị trường ngoại tệ, bình ổn tâm lý thị trường, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Ngược dòng trở lại những tháng đầu năm, giá USD miệt mài leo dốc suốt 4 tháng trên thị trường ngoại tệ, với mức tăng trên 1.100 đồng và giữ ở mức cao đến tận cuối tháng 7. Dưới áp lực tăng giá mạnh của đồng USD và để kiềm chế đà mất giá của tiền đồng, NHNN hút ròng trên thị trường mở (OMO) mạnh trên 130 nghìn tỷ đồng và bán hàng tỷ USD dự trữ ngoại hối. Cùng với việc một lượng tiền đồng được hút về qua các phiên đấu thầu vàng, đà tăng của tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng dừng lại.

Giai đoạn này căng thẳng đến nỗi giới phân tích phải tính đến kịch bản xấu nhất là nếu tiêu hao dự trữ ngoại hối nhưng không cầm cự nổi đà tăng của tỷ giá thì NHNN dự kiến nâng lãi suất điều hành thêm 25-50 điểm cơ bản, đẩy mạnh hút tiền nâng lãi suất trên thị trường mở, thu hẹp chênh lệch lãi suất USD/VND trên thị trường liên ngân hàng. Thế nhưng, những nỗ lực mạnh mẽ của NHNN phần nào giải tỏa tâm lý thị trường cũng như nhu cầu USD giảm nhẹ theo mùa vụ phần nào giúp tỷ giá ổn định.

Trong suốt quý III, cả nhà điều hành lẫn thị trường đều thở phào vì đồng USD suy yếu nhanh hơn kỳ vọng, tỷ giá

USD/VND chỉ còn tăng chưa đến 300 đồng so với đầu năm, tương đương mức tăng 1,2%. Kết thúc quý này, tỷ giá trên thị trường chính thức và phi chính thức giảm lần lượt 3,5% và 2,8% so với cuối quý trước. Nhiều kỳ vọng đặt ra khi áp lực tỷ giá giảm sâu, NHNN có dư địa để giảm lãi suất trên thị trường mở và hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống.

Thế nhưng, tình thế xoay chuyển khi tiền đồng mất giá trở lại trong những ngày đầu tháng 10/2024. Bất chấp ba đợt cắt giảm lãi suất 100 điểm cơ bản của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cùng nhiều ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, sức mạnh đồng USD khó lòng suy yếu vì số liệu kinh tế Mỹ tốt hơn kỳ vọng và nhà đầu tư đặt cược đúng về kết quả ông Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ.

Ngoài chịu tác động bởi chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt khác, tỷ giá USD/VND còn chịu sức ép bởi cầu về ngoại tệ lớn trong năm để đáp ứng nhu cầu trả nợ nước ngoài, nhập khẩu nguyên liệu, doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước. Ngoài ra, một lượng lớn ngoại tệ rút ra khỏi thị trường qua nhiều kênh không chính thức, thể hiện ở khoản mục lỗi và sai sót trong cán cân thanh toán quốc tế âm gần 17,5 tỷ USD, tăng 21% cùng kỳ.

Nhiều ẩn số gây gián đoạn lộ trình cắt giảm lãi suất

Chia sẻ tại hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2025, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Thường trực NHNN cho biết, NHNN vẫn giữ nguyên các mức lãi suất điều hành trong bối cảnh lãi suất thế giới vẫn neo ở mức cao, tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó, có điều kiện hỗ trợ nền kinh tế.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về những nhân tố này sẽ gây nhiều thách thức trong việc điều hành tỷ giá của NHNN trong năm 2025, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính - Bất động sản Toàn Cầu cho rằng, khó nhận thấy rõ xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục khi ông Donald Trump lãnh nhiệm vụ Tổng thống Mỹ lần thứ 2, bởi nhiều yếu tố sẽ đẩy lãi suất điều hành hơn là hạ lãi suất.

Ông Hiếu phân tích, tất cả những kế hoạch của ông Trump tuyên bố trước và sau khi thắng cử đều nhấn mạnh sẽ áp thuế nhập khẩu rất mạnh lên hàng hóa của Trung Quốc, có thể 60%, thậm chí 100%. Khi đó, các nước top đầu xuất siêu vào Mỹ, trong đó có Việt Nam có thể bị áp thuế nhập khẩu rất cao. “Trong bối cảnh chính quyền Trump 2.0 muốn trừng phạt Trung Quốc, thật sự ra chính người dân Mỹ sẽ phải chịu sự trừng phạt đó, thành ra xảy ra tình huống “gậy ông đập lưng ông” và lạm phát có thể tăng lên rất cao - ông Hiếu nhìn nhận.

Ngoài ra, Tổng thống Mỹ dự kiến sẽ trục xuất hàng triệu người lao động bất hợp pháp sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động tại Mỹ, đẩy giá lao động và lạm phát tăng thêm. Bên cạnh đó, dự kiến chính sách giảm thuế cho giới nhà giàu tại Mỹ dẫn đến bội chi ngân sách của Mỹ tăng cao hơn. Để cân bằng bội chi ngân sách, Chính phủ Mỹ sẽ phát hành trái phiếu Chính phủ với lãi suất cao.

“Tất cả những yếu tố đó có thể buộc Fed tăng lãi suất, tức xoay ngược chính sách tiền tệ từ nới lỏng sang thắt chặt để kiểm soát lạm phát. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng lớn đến điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của Việt Nam” - ông Hiếu nhận định.

Đến hồi kết chu kỳ cắt giảm lãi suất, suy giảm đồng USD mới rõ nét

Về định hướng điều hành chính sách tỷ giá năm 2025, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, thời gian tới, NHNN tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường để điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm hỗ trợ ưu tiên tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. NHNN nhấn mạnh đến việc điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ.

“NHNN theo dõi sát tình hình thị trường để điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô” - ông Tú nhấn mạnh.

Nhìn lại lịch sử để dự báo một phần biến động tỷ giá, Trung tâm phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt nhận thấy rằng, việc đồng USD neo cao trong thời kỳ đầu của chu kỳ nới lỏng tiền tệ có thể gây áp lực lên tỷ giá USD/VND. Chẳng hạn, có thể thấy nhiều hàm ý trong giai đoạn Fed nới lỏng (2019 - 2021) và thắt chặt chính sách tiền tệ (2022 - 2023).

Cụ thể, trong giai đoạn Fed thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ (2022 - 2023), đồng USD biến động tăng giá mạnh trong giai đoạn đầu và duy trì sức mạnh suốt thời gian dài khi lãi suất neo ở mức cao. Ở thời kỳ Fed cắt giảm lãi suất (2019 - 2021), các bước cắt giảm đầu tiên không tạo ra nhiều thay đổi với xu hướng của đồng USD, sự suy giảm của đồng USD chỉ diễn ra sau đó khi chu kỳ cắt giảm lãi suất đi đến hồi kết.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

(TBTCO) - Sáng 28/9, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, xuống 25.632 đồng/USD, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do diễn biến phân hóa. DXY mở đầu tuần nhích 0,09%, lên 101,13 điểm. Tuần này, thị trường tập trung vào dữ liệu lao động, sản xuất của Mỹ và phát biểu của quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), giữa kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào cuối tháng 10.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (26/9): USD trong nước trái chiều, DXY lên đỉnh hai tháng giữa tín hiệu thắt chặt từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (26/9): USD trong nước trái chiều, DXY lên đỉnh hai tháng giữa tín hiệu thắt chặt từ Fed

(TBTCO) - Chốt tuần, tỷ giá trung tâm tăng 4 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.641 đồng/USD, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do diễn biến trái chiều. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,8%, lên 101,035 điểm và chạm đỉnh hai tháng, được hỗ trợ bởi lập trường thắt chặt của Fed và lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao.
Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

(TBTCO) - Sáng 25/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng, lên 25.641 đồng, trong khi USD trên thị trường tự do và ngân hàng diễn biến phân hóa. Chỉ số DXY nhích 0,13% lên 101,25 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất gia tăng, trong bối cảnh quan chức Fed phát tín hiệu cứng rắn và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh.
Tỷ giá USD hôm nay (24/9): DXY tăng mạnh vượt 101 điểm, thị trường tăng cược Fed nâng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (24/9): DXY tăng mạnh vượt 101 điểm, thị trường tăng cược Fed nâng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 24/9, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.635 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng giảm nhẹ. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng mạnh 0,55% lên 101,11 điểm khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách. Thị trường hiện định giá 69,7% khả năng Fed tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm vào tháng 10 và chờ thêm dữ liệu kinh tế Mỹ.
Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 21/9, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,23 điểm, duy trì vùng cao nhất khoảng 7 tuần. Tuần này, thị trường tập trung vào loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Trung và các cuộc họp chính sách của nhiều ngân hàng trung ương lớn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17480 17753 18338
CAD 17753 18027 18643
CHF 30676 31052 31711
CNY 0 3834 3929
EUR 28610 28828 29910
GBP 33526 33914 34840
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14267 14849
SGD 19769 20051 20617
THB 689 752 805
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26175
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 28,653 28,676 30,037
JPY 160.03 160.32 170.03
GBP 33,691 33,782 34,953
AUD 17,671 17,735 18,408
CAD 17,933 17,991 18,655
CHF 30,895 30,991 31,915
SGD 19,876 19,938 20,729
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,246 3,256 3,392
KRW 17.63 18.39 20
THB 736.73 745.83 798.58
NZD 14,252 14,384 14,814
SEK - 2,545 2,635
DKK - 3,843 3,979
NOK - 2,653 2,747
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.98 - 6,710.21
TWD 734.78 - 890.21
SAR - 6,804.67 7,168.21
KWD - 82,140 87,404
AED - 6,821 7,350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 17621 17721 18651
CAD 17909 18009 19026
CHF 30822 30852 32433
CNY 3816.7 3841.7 3976.8
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28749 28779 30502
GBP 33768 33818 35578
HKD 0 3315 0
JPY 160.87 161.37 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14335 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19899 20029 20751
THB 0 716.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 02/10/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30