Đưa nền kinh tế tăng trưởng mạnh, sẵn sàng tăng room tín dụng năm 2025

(TBTCO) - Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến hết năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt 15,08%; lãi suất cho vay giảm 0,6% so với đầu năm. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng dự kiến đạt mức 16%, NHNN sẵn sàng mở thêm room nếu khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế tốt hơn.
aa

Chiều ngày 7/1, tại Hà Nội, NHNN tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.

Kinh tế nhiều điểm sáng, tín dụng tăng trưởng 15,08%

Năm 2024, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và không đều, lạm phát các nước hạ nhiệt rõ hơn sau thời gian thắt chặt tiền tệ và giá dầu giảm, các ngân hàng trung ương hạ lãi suất, thị trường hàng hóa, tiền tệ biến động mạnh do tính bất định của kinh tế toàn cầu.

Lãi suất USD quốc tế giảm nhưng vẫn ở mặt bằng cao và tương quan kinh tế Mỹ với các nền kinh tế khiến diễn biến đồng USD vẫn phức tạp, tạo ra thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam. Trước những thách thức và cơ hội đan xen, toàn ngành ngân hàng và điều hành chính sách tiền tệ để lại nhiều dấu ấn.

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN đánh giá, năm 2024, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn những năm trước đây. Trước hết, nhờ những cơ chế, chỉ đạo quyết liệt, đúng và trúng của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giúp nền kinh tế tăng tốc và tháo gỡ những khó khăn từ kinh tế thế giới, chiến tranh khu vực và hệ luỵ để lại từ đại dịch tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Nhờ đó, doanh nghiệp được khai thông và hỗ trợ nguồn vốn, giúp nhiều doanh nghiệp quay trở lại hoạt động và mở rộng sản xuất kinh doanh.

Ngày 7/1 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú chủ trì buổi họp báo.

Năm 2024 cũng có nhiều mặt thuận lợi hơn năm 2023 do chính sách tiền tệ, thương mại các nước nới lỏng hơn, giảm bớt căng thẳng về tác động lên nền kinh tế - tài chính Việt Nam; xuất nhập khẩu rộng mở tạo thuận lợi về điều hành chính sách ngoại tệ, tỷ giá, dòng vốn.

Thị trường vàng biến động nhưng đáp ứng phần nào nhu cầu người dân; lượng ngoại tệ FDI vẫn đổ vào Việt Nam, lượng kiều hối hỗ trợ chính sách tỷ giá. Nhờ đó, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khởi sắc hơn và nhu cầu vốn của nền kinh tế, doanh nghiệp gia tăng hơn năm 2023.

Theo Phó Thống đốc, năm 2024, NHNN đạt được nhiều dấu ấn thông qua việc điều hành chính sách tiền tệ góp phần ổn định được kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát 3,63%, dưới 4,5% theo mục tiêu đề ra; tăng trưởng GDP 7,09%; đồng thời, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, giữ ổn định được thị trường tiền tệ, ngoại hối.

"Tính đến hết năm 2024, tín dụng toàn ngành tăng 15,08%, đạt mức đặt ra đầu năm, với dư nợ 15,6 triệu tỷ đồng, tương ứng ngành ngân hàng đưa thêm vào nền kinh tế 2,1 triệu tỷ đồng so với năm 2023 (13,6 triệu tỷ đồng)" - Phó Thống đốc NHNN thông tin.

Cùng với đó, NHNN sử dụng nhiều công cụ điều hành linh hoạt từ lãi suất, cho vay tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở; phối hợp chính sách tài khóa, giúp thanh khoản ngân hàng thương mại tích cực, không có giai đoạn nào thiếu vốn. NHNN cũng giao chỉ tiêu tín dụng cởi mở, đổi mới từ năm 2022, không để ngân hàng thương mại nào thiếu room tín dụng. Nhờ đó, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, những dự án đủ điều kiện đều tiếp cận được vốn.

Trong năm 2024, NHNN cũng không thay đổi lãi suất điều hành để mang lại thông điệp ổn định lãi suất, đảm bảo hài hoà lãi suất cho vay và huy động, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng. "Lãi suất cho vay giảm 0,6% so với đầu năm, riêng 4 ngân hàng quốc doanh big 4 giảm lãi suất trung bình gần 1%" - ông Tú nói.

Tỷ giá tăng 5,03%, thách thức còn nhiều

Về chính sách điều hành tỷ giá, theo lãnh đạo NHNN, tỷ giá phụ thuộc độ mở nền kinh tế, dòng vốn FDI, hoạt động xuất nhập khẩu và chính sách các nước lớn ảnh hưởng tới sức mạnh đồng USD.

Trong năm 2024, chỉ số DXY tăng 7%, tỷ giá USD/VND tăng khoảng 5,03%, ổn định hơn so với nhiều quốc gia châu Á. Theo ông Tú, tỷ giá biến động theo cung cầu thị trường, NHNN cân đối được ngoại tệ, đảm bảo chính sách tỷ giá tạo điều kiện hoạt động xuất nhập khẩu, nhà đầu tư không có gì lo lắng, suy nghĩ dẫn đến chuyện đầu cơ, găm giữ tỷ giá.

Về tình hình chuyển giao bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu, kém, NHNN đang trình Chính phủ, nếu trước Tết Âm lịch có quyết định thì tiến trình chuyển giao sẽ hoàn thành. Với Ngân hàng SCB, Phó Thống đốc cho biết, các khoản tiết kiệm, tiền gửi người dân được đảm bảo và NHNN đang tích cực xử lý những sai phạm, yếu kém trước đây.

Dù năm 2024 có nhiều điểm khởi sắc, nhưng theo Phó Thống đốc, doanh nghiệp không hẳn nhiều thuận lợi do điều kiện tiếp cận vốn hạn chế, thị trường chứng khoán chưa phát triển nhanh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát hành sôi động, công khai và minh bạch hơn sau những trầm lắng nhưng chưa trở lại như trước đây và chưa đáp ứng được nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế.

Có thể nói, thị trường bất động sản ấm hơn, sôi động và "hồng hào" hơn giúp thị trường tín dụng khởi sắc hơn, tích cực hơn năm 2023 nhưng vướng mắc về thủ tục pháp lý, quy trình, giấy phép còn phải xử lý.

"Nợ xấu có xu hướng tăng là điều ngành ngân hàng phải nhận diện, nhiều chính sách hỗ trợ người vay, cơ cấu thời hạn trả nợ chỉ đến hết năm 2024, dù đã đến hạn trả nợ song doanh nghiệp gặp khó chưa trả được nợ và không phải doanh nghiệp nào cũng phục hồi để trả nợ" - ông Tú lưu ý./.

Ngày 7/1 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú.

Theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, năm 2025 là năm cuối thực hiện Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, cả nước và toàn ngành ngân hàng tập trung cao độ và đặt ra mục tiêu cao hơn mọi năm. Chính phủ đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP mạnh mẽ hơn 8%, vậy cần vốn tín dụng bao nhiêu, vốn từ Chính phủ, vốn đầu tư xã hội bao nhiêu?

"Chúng tôi mong có thêm nguồn vốn từ thị trường trái phiếu, chứng khoán và nguồn vốn khác từ đầu tư xã hội, đầu tư tư nhân nhằm giảm áp lực cho tín dụng" - ông Tú kỳ vọng.

Về mức tăng trưởng tín dụng 16% năm 2025, theo Phó Thống đốc, con số này đặt ra để định hướng điều hành chứ không phải con số pháp lệnh. Mục tiêu cuối cùng là kiểm soát lạm phát, đảm bảo hỗ trợ tăng trưởng nền kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá.

NHNN khuyến khích tăng trưởng tín dụng với lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế, tín dụng xanh, lĩnh vực nào kiểm soát chặt chẽ, tránh các ngân hàng thương mại tăng trưởng tín dụng nóng mất kiểm soát. NHNN sẵn sàng mở thêm room nếu khả năng hấp thụ vốn tốt hơn, doanh nghiệp tiếp cận được vốn. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng còn chịu ảnh hưởng lớn từ mặt bằng lãi suất.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 145,300
Hà Nội - PNJ 142,300 145,300
Đà Nẵng - PNJ 142,300 145,300
Miền Tây - PNJ 142,300 145,300
Tây Nguyên - PNJ 142,300 145,300
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 145,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 14,530
Miếng SJC Nghệ An 14,230 14,530
Miếng SJC Thái Bình 14,230 14,530
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 14,580
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 14,490
Trang sức 99.99 13,900 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 14,532
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 14,533
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 1,449
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 1,438
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 142,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 108,011
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 97,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 87,877
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 83,994
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 60,121
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cập nhật: 16/09/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17966 18241 18820
CAD 18122 18397 19017
CHF 31081 31459 32106
CNY 0 3825 3922
EUR 29314 29534 30615
GBP 34177 34568 35505
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14647 15235
SGD 19864 20145 20716
THB 695 759 812
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 16/09/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30