Đưa nền kinh tế tăng trưởng mạnh, sẵn sàng tăng room tín dụng năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến hết năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt 15,08%; lãi suất cho vay giảm 0,6% so với đầu năm. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng dự kiến đạt mức 16%, NHNN sẵn sàng mở thêm room nếu khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế tốt hơn.
aa

Chiều ngày 7/1, tại Hà Nội, NHNN tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.

Kinh tế nhiều điểm sáng, tín dụng tăng trưởng 15,08%

Năm 2024, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và không đều, lạm phát các nước hạ nhiệt rõ hơn sau thời gian thắt chặt tiền tệ và giá dầu giảm, các ngân hàng trung ương hạ lãi suất, thị trường hàng hóa, tiền tệ biến động mạnh do tính bất định của kinh tế toàn cầu.

Lãi suất USD quốc tế giảm nhưng vẫn ở mặt bằng cao và tương quan kinh tế Mỹ với các nền kinh tế khiến diễn biến đồng USD vẫn phức tạp, tạo ra thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam. Trước những thách thức và cơ hội đan xen, toàn ngành ngân hàng và điều hành chính sách tiền tệ để lại nhiều dấu ấn.

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN đánh giá, năm 2024, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn những năm trước đây. Trước hết, nhờ những cơ chế, chỉ đạo quyết liệt, đúng và trúng của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giúp nền kinh tế tăng tốc và tháo gỡ những khó khăn từ kinh tế thế giới, chiến tranh khu vực và hệ luỵ để lại từ đại dịch tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Nhờ đó, doanh nghiệp được khai thông và hỗ trợ nguồn vốn, giúp nhiều doanh nghiệp quay trở lại hoạt động và mở rộng sản xuất kinh doanh.

Ngày 7/1 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú chủ trì buổi họp báo.

Năm 2024 cũng có nhiều mặt thuận lợi hơn năm 2023 do chính sách tiền tệ, thương mại các nước nới lỏng hơn, giảm bớt căng thẳng về tác động lên nền kinh tế - tài chính Việt Nam; xuất nhập khẩu rộng mở tạo thuận lợi về điều hành chính sách ngoại tệ, tỷ giá, dòng vốn.

Thị trường vàng biến động nhưng đáp ứng phần nào nhu cầu người dân; lượng ngoại tệ FDI vẫn đổ vào Việt Nam, lượng kiều hối hỗ trợ chính sách tỷ giá. Nhờ đó, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khởi sắc hơn và nhu cầu vốn của nền kinh tế, doanh nghiệp gia tăng hơn năm 2023.

Theo Phó Thống đốc, năm 2024, NHNN đạt được nhiều dấu ấn thông qua việc điều hành chính sách tiền tệ góp phần ổn định được kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát 3,63%, dưới 4,5% theo mục tiêu đề ra; tăng trưởng GDP 7,09%; đồng thời, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, giữ ổn định được thị trường tiền tệ, ngoại hối.

"Tính đến hết năm 2024, tín dụng toàn ngành tăng 15,08%, đạt mức đặt ra đầu năm, với dư nợ 15,6 triệu tỷ đồng, tương ứng ngành ngân hàng đưa thêm vào nền kinh tế 2,1 triệu tỷ đồng so với năm 2023 (13,6 triệu tỷ đồng)" - Phó Thống đốc NHNN thông tin.

Cùng với đó, NHNN sử dụng nhiều công cụ điều hành linh hoạt từ lãi suất, cho vay tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở; phối hợp chính sách tài khóa, giúp thanh khoản ngân hàng thương mại tích cực, không có giai đoạn nào thiếu vốn. NHNN cũng giao chỉ tiêu tín dụng cởi mở, đổi mới từ năm 2022, không để ngân hàng thương mại nào thiếu room tín dụng. Nhờ đó, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, những dự án đủ điều kiện đều tiếp cận được vốn.

Trong năm 2024, NHNN cũng không thay đổi lãi suất điều hành để mang lại thông điệp ổn định lãi suất, đảm bảo hài hoà lãi suất cho vay và huy động, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng. "Lãi suất cho vay giảm 0,6% so với đầu năm, riêng 4 ngân hàng quốc doanh big 4 giảm lãi suất trung bình gần 1%" - ông Tú nói.

Tỷ giá tăng 5,03%, thách thức còn nhiều

Về chính sách điều hành tỷ giá, theo lãnh đạo NHNN, tỷ giá phụ thuộc độ mở nền kinh tế, dòng vốn FDI, hoạt động xuất nhập khẩu và chính sách các nước lớn ảnh hưởng tới sức mạnh đồng USD.

Trong năm 2024, chỉ số DXY tăng 7%, tỷ giá USD/VND tăng khoảng 5,03%, ổn định hơn so với nhiều quốc gia châu Á. Theo ông Tú, tỷ giá biến động theo cung cầu thị trường, NHNN cân đối được ngoại tệ, đảm bảo chính sách tỷ giá tạo điều kiện hoạt động xuất nhập khẩu, nhà đầu tư không có gì lo lắng, suy nghĩ dẫn đến chuyện đầu cơ, găm giữ tỷ giá.

Về tình hình chuyển giao bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu, kém, NHNN đang trình Chính phủ, nếu trước Tết Âm lịch có quyết định thì tiến trình chuyển giao sẽ hoàn thành. Với Ngân hàng SCB, Phó Thống đốc cho biết, các khoản tiết kiệm, tiền gửi người dân được đảm bảo và NHNN đang tích cực xử lý những sai phạm, yếu kém trước đây.

Dù năm 2024 có nhiều điểm khởi sắc, nhưng theo Phó Thống đốc, doanh nghiệp không hẳn nhiều thuận lợi do điều kiện tiếp cận vốn hạn chế, thị trường chứng khoán chưa phát triển nhanh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát hành sôi động, công khai và minh bạch hơn sau những trầm lắng nhưng chưa trở lại như trước đây và chưa đáp ứng được nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế.

Có thể nói, thị trường bất động sản ấm hơn, sôi động và "hồng hào" hơn giúp thị trường tín dụng khởi sắc hơn, tích cực hơn năm 2023 nhưng vướng mắc về thủ tục pháp lý, quy trình, giấy phép còn phải xử lý.

"Nợ xấu có xu hướng tăng là điều ngành ngân hàng phải nhận diện, nhiều chính sách hỗ trợ người vay, cơ cấu thời hạn trả nợ chỉ đến hết năm 2024, dù đã đến hạn trả nợ song doanh nghiệp gặp khó chưa trả được nợ và không phải doanh nghiệp nào cũng phục hồi để trả nợ" - ông Tú lưu ý./.

Ngày 7/1 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú.

Theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, năm 2025 là năm cuối thực hiện Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, cả nước và toàn ngành ngân hàng tập trung cao độ và đặt ra mục tiêu cao hơn mọi năm. Chính phủ đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP mạnh mẽ hơn 8%, vậy cần vốn tín dụng bao nhiêu, vốn từ Chính phủ, vốn đầu tư xã hội bao nhiêu?

"Chúng tôi mong có thêm nguồn vốn từ thị trường trái phiếu, chứng khoán và nguồn vốn khác từ đầu tư xã hội, đầu tư tư nhân nhằm giảm áp lực cho tín dụng" - ông Tú kỳ vọng.

Về mức tăng trưởng tín dụng 16% năm 2025, theo Phó Thống đốc, con số này đặt ra để định hướng điều hành chứ không phải con số pháp lệnh. Mục tiêu cuối cùng là kiểm soát lạm phát, đảm bảo hỗ trợ tăng trưởng nền kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá.

NHNN khuyến khích tăng trưởng tín dụng với lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế, tín dụng xanh, lĩnh vực nào kiểm soát chặt chẽ, tránh các ngân hàng thương mại tăng trưởng tín dụng nóng mất kiểm soát. NHNN sẵn sàng mở thêm room nếu khả năng hấp thụ vốn tốt hơn, doanh nghiệp tiếp cận được vốn. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng còn chịu ảnh hưởng lớn từ mặt bằng lãi suất.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80