Đưa nền kinh tế tăng trưởng mạnh, sẵn sàng tăng room tín dụng năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến hết năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt 15,08%; lãi suất cho vay giảm 0,6% so với đầu năm. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng dự kiến đạt mức 16%, NHNN sẵn sàng mở thêm room nếu khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế tốt hơn.
aa

Chiều ngày 7/1, tại Hà Nội, NHNN tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.

Kinh tế nhiều điểm sáng, tín dụng tăng trưởng 15,08%

Năm 2024, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và không đều, lạm phát các nước hạ nhiệt rõ hơn sau thời gian thắt chặt tiền tệ và giá dầu giảm, các ngân hàng trung ương hạ lãi suất, thị trường hàng hóa, tiền tệ biến động mạnh do tính bất định của kinh tế toàn cầu.

Lãi suất USD quốc tế giảm nhưng vẫn ở mặt bằng cao và tương quan kinh tế Mỹ với các nền kinh tế khiến diễn biến đồng USD vẫn phức tạp, tạo ra thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam. Trước những thách thức và cơ hội đan xen, toàn ngành ngân hàng và điều hành chính sách tiền tệ để lại nhiều dấu ấn.

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN đánh giá, năm 2024, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn những năm trước đây. Trước hết, nhờ những cơ chế, chỉ đạo quyết liệt, đúng và trúng của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giúp nền kinh tế tăng tốc và tháo gỡ những khó khăn từ kinh tế thế giới, chiến tranh khu vực và hệ luỵ để lại từ đại dịch tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Nhờ đó, doanh nghiệp được khai thông và hỗ trợ nguồn vốn, giúp nhiều doanh nghiệp quay trở lại hoạt động và mở rộng sản xuất kinh doanh.

Ngày 7/1 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú chủ trì buổi họp báo.

Năm 2024 cũng có nhiều mặt thuận lợi hơn năm 2023 do chính sách tiền tệ, thương mại các nước nới lỏng hơn, giảm bớt căng thẳng về tác động lên nền kinh tế - tài chính Việt Nam; xuất nhập khẩu rộng mở tạo thuận lợi về điều hành chính sách ngoại tệ, tỷ giá, dòng vốn.

Thị trường vàng biến động nhưng đáp ứng phần nào nhu cầu người dân; lượng ngoại tệ FDI vẫn đổ vào Việt Nam, lượng kiều hối hỗ trợ chính sách tỷ giá. Nhờ đó, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khởi sắc hơn và nhu cầu vốn của nền kinh tế, doanh nghiệp gia tăng hơn năm 2023.

Theo Phó Thống đốc, năm 2024, NHNN đạt được nhiều dấu ấn thông qua việc điều hành chính sách tiền tệ góp phần ổn định được kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát 3,63%, dưới 4,5% theo mục tiêu đề ra; tăng trưởng GDP 7,09%; đồng thời, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, giữ ổn định được thị trường tiền tệ, ngoại hối.

"Tính đến hết năm 2024, tín dụng toàn ngành tăng 15,08%, đạt mức đặt ra đầu năm, với dư nợ 15,6 triệu tỷ đồng, tương ứng ngành ngân hàng đưa thêm vào nền kinh tế 2,1 triệu tỷ đồng so với năm 2023 (13,6 triệu tỷ đồng)" - Phó Thống đốc NHNN thông tin.

Cùng với đó, NHNN sử dụng nhiều công cụ điều hành linh hoạt từ lãi suất, cho vay tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở; phối hợp chính sách tài khóa, giúp thanh khoản ngân hàng thương mại tích cực, không có giai đoạn nào thiếu vốn. NHNN cũng giao chỉ tiêu tín dụng cởi mở, đổi mới từ năm 2022, không để ngân hàng thương mại nào thiếu room tín dụng. Nhờ đó, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, những dự án đủ điều kiện đều tiếp cận được vốn.

Trong năm 2024, NHNN cũng không thay đổi lãi suất điều hành để mang lại thông điệp ổn định lãi suất, đảm bảo hài hoà lãi suất cho vay và huy động, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng. "Lãi suất cho vay giảm 0,6% so với đầu năm, riêng 4 ngân hàng quốc doanh big 4 giảm lãi suất trung bình gần 1%" - ông Tú nói.

Tỷ giá tăng 5,03%, thách thức còn nhiều

Về chính sách điều hành tỷ giá, theo lãnh đạo NHNN, tỷ giá phụ thuộc độ mở nền kinh tế, dòng vốn FDI, hoạt động xuất nhập khẩu và chính sách các nước lớn ảnh hưởng tới sức mạnh đồng USD.

Trong năm 2024, chỉ số DXY tăng 7%, tỷ giá USD/VND tăng khoảng 5,03%, ổn định hơn so với nhiều quốc gia châu Á. Theo ông Tú, tỷ giá biến động theo cung cầu thị trường, NHNN cân đối được ngoại tệ, đảm bảo chính sách tỷ giá tạo điều kiện hoạt động xuất nhập khẩu, nhà đầu tư không có gì lo lắng, suy nghĩ dẫn đến chuyện đầu cơ, găm giữ tỷ giá.

Về tình hình chuyển giao bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu, kém, NHNN đang trình Chính phủ, nếu trước Tết Âm lịch có quyết định thì tiến trình chuyển giao sẽ hoàn thành. Với Ngân hàng SCB, Phó Thống đốc cho biết, các khoản tiết kiệm, tiền gửi người dân được đảm bảo và NHNN đang tích cực xử lý những sai phạm, yếu kém trước đây.

Dù năm 2024 có nhiều điểm khởi sắc, nhưng theo Phó Thống đốc, doanh nghiệp không hẳn nhiều thuận lợi do điều kiện tiếp cận vốn hạn chế, thị trường chứng khoán chưa phát triển nhanh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát hành sôi động, công khai và minh bạch hơn sau những trầm lắng nhưng chưa trở lại như trước đây và chưa đáp ứng được nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế.

Có thể nói, thị trường bất động sản ấm hơn, sôi động và "hồng hào" hơn giúp thị trường tín dụng khởi sắc hơn, tích cực hơn năm 2023 nhưng vướng mắc về thủ tục pháp lý, quy trình, giấy phép còn phải xử lý.

"Nợ xấu có xu hướng tăng là điều ngành ngân hàng phải nhận diện, nhiều chính sách hỗ trợ người vay, cơ cấu thời hạn trả nợ chỉ đến hết năm 2024, dù đã đến hạn trả nợ song doanh nghiệp gặp khó chưa trả được nợ và không phải doanh nghiệp nào cũng phục hồi để trả nợ" - ông Tú lưu ý./.

Ngày 7/1 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025.
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú.

Theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, năm 2025 là năm cuối thực hiện Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, cả nước và toàn ngành ngân hàng tập trung cao độ và đặt ra mục tiêu cao hơn mọi năm. Chính phủ đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP mạnh mẽ hơn 8%, vậy cần vốn tín dụng bao nhiêu, vốn từ Chính phủ, vốn đầu tư xã hội bao nhiêu?

"Chúng tôi mong có thêm nguồn vốn từ thị trường trái phiếu, chứng khoán và nguồn vốn khác từ đầu tư xã hội, đầu tư tư nhân nhằm giảm áp lực cho tín dụng" - ông Tú kỳ vọng.

Về mức tăng trưởng tín dụng 16% năm 2025, theo Phó Thống đốc, con số này đặt ra để định hướng điều hành chứ không phải con số pháp lệnh. Mục tiêu cuối cùng là kiểm soát lạm phát, đảm bảo hỗ trợ tăng trưởng nền kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá.

NHNN khuyến khích tăng trưởng tín dụng với lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế, tín dụng xanh, lĩnh vực nào kiểm soát chặt chẽ, tránh các ngân hàng thương mại tăng trưởng tín dụng nóng mất kiểm soát. NHNN sẵn sàng mở thêm room nếu khả năng hấp thụ vốn tốt hơn, doanh nghiệp tiếp cận được vốn. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng còn chịu ảnh hưởng lớn từ mặt bằng lãi suất.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17814 18088 18663
CAD 18150 18426 19042
CHF 31818 32199 32832
CNY 0 3839 3931
EUR 29407 29628 30705
GBP 34423 34814 35744
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14969 15550
SGD 19812 20094 20665
THB 698 761 815
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,511 29,535 30,944
JPY 157.61 157.89 167.43
GBP 34,565 34,659 35,852
AUD 18,000 18,065 18,744
CAD 18,347 18,406 19,082
CHF 32,081 32,181 33,132
SGD 19,929 19,991 20,778
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 748.53 757.77 810.76
NZD 14,953 15,092 15,537
SEK - 2,676 2,771
DKK - 3,948 4,087
NOK - 2,669 2,764
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,038.53 - 6,814.83
TWD 737.41 - 893.26
SAR - 6,871.99 7,237.67
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26450
AUD 18004 18104 19027
CAD 18347 18447 19462
CHF 32062 32092 33678
CNY 3820 3845 3980.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31345
GBP 34703 34753 36513
HKD 0 3355 0
JPY 158.47 158.97 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15068 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19973 20103 20829
THB 0 729.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80