FED tăng lãi suất tháng 3 và sức ép với dòng vốn đầu tư

Chí Tín
(TBTCO) - Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đưa ra thông điệp có thể sẽ đề xuất thực hiện đợt tăng lãi suất đầu tiên năm 2022 trong tháng 3 ở mức 0,25 điểm phần trăm. Điều này nếu diễn ra có thể sẽ tác động nhiều mặt lên kinh tế Việt Nam, trong đó có sức ép sụt giảm dòng vốn đầu tư. Tuy nhiên, yếu tố phục hồi tăng trưởng của kinh tế Việt Nam kỳ vọng sẽ là trụ cột để giữ chân dòng vốn ngoại.
aa

Ảnh hưởng xung đột Nga - Ukraine

Thực tế, việc FED sẽ thực hiện các đợt tăng lãi suất trong năm 2022 không phải là thông tin bất ngờ, bởi việc này đã được nhiều chuyên gia và các tổ chức kinh tế dự báo từ trước do tình trạng lạm phát gia tăng tại Mỹ thời gian qua.

FED tăng lãi suất tháng 3 và sức ép với dòng vốn đầu tư

Hồi đầu năm 2022, Goldman Sachs đã từng đưa ra dự báo cho rằng, FED sẽ nâng lãi suất 4 lần trong năm 2022 và bắt đầu cắt giảm quy mô bảng cân đối kế toán từ tháng 7. Goldman Sachs dự báo khi kết thúc chu kỳ thắt chặt này, lãi suất tham chiếu của FED sẽ ở mức 2,5 - 2,75%. Chuyên gia Jan Hatzius của Goldman Sachs nhận định, tiến trình phục hồi nhanh của thị trường việc làm tại Mỹ và những tín hiệu cứng rắn trong biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ định kỳ của FED hồi cuối năm 2021 đều chỉ báo về một sự bình thường hoá chính sách tiền tệ nhanh hơn (kết thúc thời kỳ duy trì chính sách nới lỏng).

Mặc dù kế hoạch tăng lãi suất của FED được dự báo là đã nằm trong lộ trình, nhưng “sự cố” từ xung đột Nga – Ukraine được một số nhà phân tích đánh giá có thể là một trong những tác nhân khiến cho FED đẩy nhanh lộ trình tăng lãi suất sớm hơn.

TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Học viện Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, lộ trình tăng lãi suất của FED thực tế không có gì bất ngờ vì đã được bàn luận và thể hiện trong kế hoạch của họ từ trước. Tuy nhiên, những tác động chính trị liên quan đến xung đột Nga – Ukcaine cũng có thể khiến FED đẩy nhanh hơn việc thực hiện lộ trình tăng lãi suất.

Trong đó, bối cảnh đồng Rúp của Nga đang đối diện với tình trạng giảm giá mạnh do ảnh hưởng của các biện pháp trừng phạt kinh tế, khiến cho Nga cũng có động thái tăng lãi suất để ngăn chặn tình trạng đồng Rúp mất giá. Trước diễn biến này, FED cũng đứng trước việc phải có hành động sớm đối với việc tăng lãi suất để giữ giá đồng USD.

Những tác động kinh tế trong nước

Với những lộ trình đưa ra trong chính sách tiền tệ dự kiến trong năm 2022, FED kỳ vọng lạm phát tại Mỹ sẽ hạ nhiệt năm nay. Tuy vậy, FED cho biết sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến lạm phát để có biện pháp phù hợp. Chủ tịch FED cho rằng, chính sách tiền tệ của FED đã và đang thích ứng với môi trường kinh tế đang phát triển. Với lạm phát tăng mạnh và thị trường lao động phục hồi mạnh mẽ, cơ quan này kỳ vọng việc tăng lãi suất cuối tháng 3 này là phù hợp.

Ông Châu Đình Linh cho biết thêm, khi FED tăng lãi suất có thể khiến dòng vốn ngoại rút ra khỏi các thị trường nhận đầu tư. Dòng tiền sẽ quay về các thị trường lớn như Mỹ hay EU, nhằm tránh rủi ro, bởi lãi suất đang tăng. Hiện tượng rút vốn có thể xảy ra tại Việt Nam, nhưng khó có thể ồ ạt như trước, vì việc tăng lãi suất là điều đã được dự báo và thị trường đã chuẩn bị tâm lý cho việc này.

Một trong những yếu tố được kỳ vọng có thể “giữ chân” dòng tiền không rời khỏi thị trường Việt Nam là những dự báo lạc quan về sự phục hồi kinh tế của Việt Nam trong năm 2022. Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021 đã đạt 2,58% và dự báo có thể phục hồi lên mức 6,5% - 7% nếu Việt Nam kiểm soát tốt dịch bệnh và thực hiện thành công Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, dự báo sẽ chỉ quanh mức 3,4% - 3,7% trong năm 2022.

Thực tế số liệu dòng vốn ngoại vẫn duy trì ở mức ổn định trong 2 tháng đầu năm 2022. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam 2 tháng ước tính đạt 2,68 tỷ USD, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.

Về tình hình góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài, trong 2 tháng có 400 lượt, với tổng giá trị góp vốn 769,6 triệu USD, tăng 41,7% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, 174 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 91,5 triệu USD và 226 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 678,1 triệu USD.

Về sự ảnh hưởng đến các nhóm doanh nghiệp, các chuyên gia cho rằng, việc tăng lãi suất nếu có tác động tăng tỷ giá đồng Việt Nam thì doanh nghiệp nhập khẩu sẽ phải chịu chi phí cao hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ dễ xuất khẩu hơn do hàng hóa của họ trở nên rẻ hơn trước đây do chênh lệch tỷ giá, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp vào Mỹ. Đặc biệt, tỷ trọng hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ khá lớn, đây là thị trường xuất khẩu lớn nhất trong 2 tháng đầu năm 2022 với kim ngạch ước đạt 18,3 tỷ USD.

Kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ từ cuối quý I

Ông Tim Leelahaphan - chuyên gia kinh tế phụ trách Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered nhận định, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, bắt đầu từ cuối quý I. Tốc độ tăng trưởng dự kiến sẽ đạt 6,7% trong năm 2022 và 7% trong năm 2023. Triển vọng trung hạn của Việt Nam duy trì tích cực. Việt Nam sẽ tiếp tục là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và là một điểm đến được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Hoạt động đầu tư vào Việt Nam dự kiến sẽ phục hồi trong năm nay sau một thời gian bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 20:00
Ngân hàng