Giá USD ngân hàng chạm mốc 25.700 đồng, lập đỉnh lịch sử

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau khi hạ nhiệt trong tháng 1/2025, tỷ giá USD/VND tiếp tục căng thẳng. Giá bán USD được niêm yết bởi các ngân hàng ngày 11/2 ở mức cao chưa từng có, chạm mốc 25.700 VND/USD và tiếp tục bán ra sát mức trần cho phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
aa
Thách thức điều hành tỷ giá dưới thời chính quyền Trump 2.0 Nhận diện ba nhân tố khiến áp lực tỷ giá vẫn khó nguôi Dự báo tỷ giá khó bình lặng năm 2025 Giải mã biến động tỷ giá dù chu kỳ nới lỏng tiền tệ ngày càng rõ nét

Ngày 11/02, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết tỷ giá trung tâm tăng mạnh 35 đồng, lên mức 24.522 VND/USD. Áp dụng biên độ 5%, tỷ giá trần hôm nay là 25.748 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.295,9 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hiện là 23.346 - 25.698 VND/USD (mua vào - bán ra).

Giá bán USD tại các ngân hàng lập đỉnh

Tại các ngân hàng thương mại, Vietcombank niêm yết giá bán USD ở mức cao kịch trần, lên 25.700 VND/USD, ở mức đỉnh lịch sử. Ở chiều mua vào, giá USD niêm yết ở mức 25.310 VND/USD. So với phiên hôm qua, giá USD tại Vietcombank tăng mạnh 140 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. Chỉ sau 1 tuần giao dịch đầu tiên sau Tết, giá USD tại Vietcombank tăng tới 340 đồng cả hai chiều, tương ứng mức tăng 1,34%.

Còn BIDV niêm yết giá USD hôm nay ở mức 25.330 - 25.690 VND/USD (mua vào - bán ra), với mức tăng mạnh so với chốt phiên hôm qua, ở mức 130 đồng.

Giá USD ngân hàng chạm mốc 25.700 đồng, lập đỉnh lịch sử
Vietcombank niêm yết tỷ giá bán USD ở mức cao kịch trần lên 25.700 VND/USD, ở mức đỉnh lịch sử. Ảnh tư liệu.

Trên thị trường thế giới, chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt ở mức 108,25 điểm, có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng lên mức 110 điểm đầu tháng 1/2025, mức cao nhất trong vòng 2 năm qua.

Trước những tác động mà các chính sách của chính quyền mới có thể gây ra và rủi ro lạm phát kéo dài, các quan chức Fed đã quyết định tạm dừng cắt giảm lãi suất tại cuộc họp tháng 1 sau ba lần cắt giảm trong năm 2024.

Về diễn biến thị trường mở trong phiên ngày 11/2, qua kênh cầm cố, NHNN chào thầu ở hai kỳ hạn 7 ngày và 14 ngày. Theo đó, có 9.794,71 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày; 12.692,51 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất 4%; có 20.273,93 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Cùng với đó, NHNN chào thầu tín phiếu NHNN 7 ngày, đấu thầu lãi suất, có 2.999,8 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất 4%; có 900 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, ngày 11/2, NHNN bơm ròng nhẹ 113,49 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 163,618.92 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 19,299.6 tỷ đồng tín phiếu NHNN lưu hành trên thị trường. Trước đó, trong tuần đầu tiên làm việc sau Tết, trên thị trường mở, NHNN bơm ròng 34.310,46 tỷ đồng ra thị trường.

Về diễn biến trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 10/02, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng mạnh 0,34 - 1,01 điểm phần trăm (đpt) ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên cuối tuần trước.

Cụ thể, lãi suất qua đêm lên mức 5,51%; 1 tuần 5,50%; 2 tuần 5,46% và 1 tháng 5,24%. Trong khi đó, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,01 đpt ở hầu hết các kỳ hạn ngoại trừ đi ngang ở kỳ hạn qua đêm, giao dịch tại: qua đêm 4,37%; 1 tuần 4,41%; 2 tuần 4,50%, 1 tháng 4,57%.

Nhiều rủi ro củng cố vị thế đồng USD

Nhìn lại diễn biến và những nhân tố tác động lên tỷ giá trong tháng 1/2025, đồng bạc xanh đã suy giảm sau khi Tổng thống Trump nhậm chức (ngày 20/1) và xác nhận sẽ chưa áp thuế quan ngay trong ngày đầu tiên tại vị.

Động thái này cho thấy định hướng của Mỹ trong việc sử dụng thuế quan như một công cụ để đàm phán và mong muốn đạt được thỏa thuận với các quốc gia khác. Việc đồng USD suy yếu trong tháng giúp giảm đáng kể áp lực lên tỷ giá USD/VND.

Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã duy trì ở mức khá cao trong kỳ do thiếu hụt thanh khoản hệ thống khi nhu cầu chi tiêu tăng mạnh trong giai đoạn Tết Nguyên đán. Yếu tố này góp phần giúp giảm chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND, qua đó hỗ trợ chống lại sự mất giá của đồng VND.

Tháng này, NHNN tăng lượng thanh khoản hỗ trợ hệ thống với quy mô bơm ròng trong tháng 1/2025 trị giá khoảng 67,5 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 5 lần so với tháng trước trong bối cảnh áp lực tỷ giá giảm và nhu cầu chi tiêu của người dân trong dịp Tết tăng cao khiến áp lực thanh khoản gia tăng.

Giá USD ngân hàng chạm mốc 25.700 đồng, lập đỉnh lịch sử
Giá USD ngân hàng chạm mốc 25.700 đồng, lập đỉnh lịch sử. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, thách thức vẫn còn khi cuộc chiến thương mại được dự báo sẽ là yếu tố hỗ trợ cho đồng USD trong thời gian tới. Ngày 10/2 vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump ký một sắc lệnh điều hành áp thuế quan 25% lên tất cả thép và nhôm nhập khẩu vào Mỹ.

Gần đây, Trung Quốc đã tuyên bố áp thuế đối với hàng nhập khẩu từ Mỹ nhằm đáp trả các mức thuế mới mà Mỹ áp đặt lên hàng hóa Trung Quốc, làm bùng phát trở lại căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Ngoài ra, Mỹ sẽ áp thuế 25% đối với hàng nhập khẩu từ Mexico và Canada kể từ tháng 3/2025 nếu các cuộc đàm phán không đạt được kết quả như mong đợi.

Theo giới phân tích, những rủi ro liên quan đến chính sách thuế quan của ông Trump sẽ tiếp tục củng cố vị thế của đồng USD. Do đó, rủi ro tỷ giá vẫn sẽ cần được chú ý trong thời gian tới.

Sức ép từ thị trường trong nước

"Tại thị trường trong nước, tỷ giá trung tâm USD/VND tiếp tục xu hướng tăng, chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh đầu năm tăng cao, khiến lượng ngoại tệ cần thanh toán gia tăng. Thêm vào đó, tâm lý tích trữ ngoại tệ của doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng, khi kỳ vọng USD giữ giá trị, góp phần bảo toàn tài sản và đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế" -nhóm chuyên gia từ Viện Kinh tế - Tài chính nhìn nhận.

Trong báo cáo phân tích, dự báo tháng 2/2025 mới công bố, nhóm chuyên gia từ Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho rằng, sự tăng giá của đồng USD bắt nguồn từ nhiều yếu tố kinh tế và tài chính quan trọng.

Trên thị trường quốc tế, việc Fed duy trì lãi suất cao ở mức 4,5-4,75% để kiểm soát lạm phát, khiến USD trở thành kênh đầu tư hấp dẫn hơn so với các đồng tiền khác.

Những bất ổn toàn cầu như: suy thoái kinh tế kéo dài tại châu Âu, phục hồi chậm của kinh tế Trung Quốc và nhu cầu tiêu dùng suy giảm tại các thị trường mới nổi, cũng thúc đẩy dòng vốn tỷ đến USD như tài sản trú ẩn an toàn.

Theo dự báo của nhóm phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS), tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 25.500 - 25.800 VND/USD trong quý I/2025 khi các kế hoạch nới lỏng tài khóa của chính quyền mới, kết hợp với các chính sách nhập cư chặt chẽ hơn, cùng với lãi suất cao của Mỹ so với các nước khác và chủ nghĩa bảo hộ tương đối cao của Mỹ, dự kiến sẽ hỗ trợ cho việc gia tăng giá trị của đồng USD trong năm 2025.

“Tuy nhiên, vẫn có những yếu tố tích cực hỗ trợ cho đồng VND như: thặng dư thương mại tích cực khoảng 3,03 tỷ USD trong tháng 1/2025; lượng vốn FDI giải ngân dồi dào 1,51 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ và du lịch phục hồi mạnh mẽ, tăng 36,9% so với cùng kỳ. Sự ổn định của môi trường vĩ mô nhiều khả năng sẽ được duy trì và cải thiện hơn nữa sẽ là cơ sở để ổn định tỷ giá trong năm 2025” - nhóm phân tích MBS đánh giá.

Điều hành tỷ giá linh hoạt, hoá giải các cú sốc bên ngoài

Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) dự báo trên thị trường quốc tế, đồng USD được dự báo duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm 2025, với chỉ số DXY trong khoảng 107-108 điểm. Chính sách lãi suất cao của Fed tiếp tục hỗ trợ USD, nhưng nếu kinh tế Mỹ chậm lại hoặc lạm phát giảm nhanh, khả năng Fed nới lỏng tiền tệ có thể khiến USD giảm giá.

Trong cả năm 2025, tỷ giá USD/VND dự kiến dao động ổn định so với năm 2024. Viện Kinh tế - Tài chính cho rằng, NHNN sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt để ổn định tỷ giá, cân bằng xuất khẩu và kiểm soát lạm phát, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ biến động kinh tế toàn cầu.

Trước đó, tỷ giá VND/USD năm 2024 tăng 5,03% so với cuối năm 2023. Theo nhận định của NHNN, mức mất giá của VND phù hợp với xu hướng chung và ở mức tương đối ổn định trong tương quan so với các đồng tiền trong khu vực và trên thế giới.

Bước sang năm 2025, thị trường ngoại tệ và tỷ giá tiếp tục chịu áp lực chủ yếu do diễn biến kinh tế - chính trị quốc tế khó lường, đồng USD quốc tế biến động nhanh, tăng mạnh và cân đối cung cầu ngoại tệ kém thuận lợi. Điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp, hoá giải các cú sốc bên ngoài tiếp tục là một trong những mục tiêu trọng tâm trong năm 2025 của nhà điều hành.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80