Nhận diện ba nhân tố khiến áp lực tỷ giá vẫn khó nguôi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong cuộc trò chuyện với phóng viên TBTCVN, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục gặp nhiều áp lực và biến số khó lường năm 2025. Việt Nam chỉ có thể nới lỏng hạ lãi suất hoặc bơm tiền vào nền kinh tế để có nhiều không gian hơn hỗ trợ nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp khi chính sách của FED nới lỏng nhanh, mạnh hơn.
aa

Sau một năm chứng kiến sự đảo chiều chính sách tiền tệ tại nhiều quốc gia lớn trên toàn cầu thông qua làn sóng cắt giảm lãi suất điều hành, tưởng chừng xu hướng nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ hơn, đồng pha với chính sách tiền tệ tại Việt Nam và xoa dịu áp lực tỷ giá. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND vẫn căng thẳng ngay đầu năm 2025 khi đồng USD biến động khó lường, có thời điểm chỉ số DXY vượt ngưỡng 110 điểm.

Sức mạnh đồng USD chỉ suy giảm 1 tuần gần đây, đặc biệt sau khi ông Donald Trump chính thức nhậm chức Tổng thống Mỹ, ký sắc lệnh mới và dự kiến triển khai nhiều chính sách mới dự kiến tác động lớn tới nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Nhận diện ba nhân tố khiến áp lực tỷ giá vẫn khó nguôi
Ông Trần Ngọc Báu, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ.

PV: Nhiều dự báo cho thấy giá USD có thể vượt 26.000 đồng năm nay, không ít chuyên gia để ngỏ khả năng điều hành chính sách tiền tệ sẽ đảo chiều năm tới, thay vì tiếp tục duy trì xu hướng nới lỏng do còn nhiều nhân tố đẩy lãi suất lên cao hơn là suy giảm. Ông nghĩ sao về quan điểm này và nhân tố nào khiến sức ép tỷ giá vẫn căng thẳng đầu năm 2025?

Ông Trần Ngọc Báu: Dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã hạ lãi suất nhưng tỷ giá vẫn áp lực trong giai đoạn vừa qua, tôi cho rằng, cần kể đến ba nguyên nhân cốt lõi sau.

Đầu tiên, FED hạ lãi suất từ tháng 10/2024 nhưng Việt Nam đã hạ lãi suất đón đầu trước đó. Hơn nữa, khung chính sách lãi suất hiện tại của FED vẫn đang cao hơn lãi suất chính sách của Việt Nam từ 0,5 - 1%. Hay nói cách khác, lãi suất của chúng ta nếu tính cả phần bù rủi ro vẫn thấp hơn lãi suất của FED rất nhiều. Mỹ vẫn là sự lựa chọn hấp dẫn hơn với dòng vốn đầu tư quốc tế.

Hai là, sức khỏe kinh tế Mỹ tốt hơn so với phần còn lại của thế giới, lãi suất của Mỹ cũng hấp dẫn hơn so với phần còn lại của thế giới. Do đó tạo nên sự dịch chuyển dòng vốn vào các tài sản tại Mỹ và sự hấp dẫn của đồng USD so với các đồng tiền khác là khó tránh khỏi. Xu hướng mạnh lên của đồng USD vẫn không suy giảm kể cả khi Mỹ đã bắt đầu bước vào chu kỳ giảm lãi suất. Vấn đề tỷ giá không chỉ riêng của mỗi Việt Nam.

Thị trường toàn cầu cũng đang dành nhiều sự quan tâm, chú ý đến các hành động, chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump sau lễ tuyên thệ nhậm chức ngày 20/01, đặc biệt là một số chính sách bảo hộ nhằm nâng cao lợi ích kinh tế và bắt đầu kỷ nguyên vàng của Mỹ. Những chính sách này tác động ra sao đến sức mạnh đồng USD là điều cần quan tâm thời gian tới.

Doanh nghiệp cần hỗ trợ nhiều hơn, thay vì giữ chi phí vốn thấp

Năm 2025, tôi cho rằng chúng ta có thể chấp nhận giữ hoặc tăng nhẹ mặt bằng lãi suất để giảm bớt áp lực tỷ giá và áp lực rút vốn. Song song với đó, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ kết hợp nhịp nhàng và có những biện pháp kích cầu trong nước mạnh hơn nữa. Doanh nghiệp giờ cần bán được hàng, cần tiếp cận vốn nhiều hơn là cần chi phí vốn thấp.

Thứ ba, chính sách tiền tệ của chúng ta theo đuổi đa mục tiêu khi vừa muốn duy trì mặt bằng lãi suất thấp, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định tỷ giá trong bối cảnh đầy biến động. Điều này khiến chính sách tiền tệ trong nước khó có thể xử lý dứt điểm bất cứ mục tiêu nào mà bị "đẩy đưa" qua lại giữa hai dòng nước.

Chính điều này làm ảnh hưởng niềm tin của thị trường vào sự hiệu quả trong điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Mối lo ngại tỷ giá biến động một lần nữa kích thích tâm lý nắm giữ USD, hạn chế vay USD hoặc đưa USD về nước.

Tựu trung, tỷ giá tiếp tục gặp áp lực, dưới sức ép từ yếu tố bên ngoài khi USD mạnh lên; yếu tố bên trong là thách thức khi điều hành chính sách đa mục tiêu, trong đó có kiểm soát tỷ giá; yếu tố tâm lý.

PV: Cũng có ý kiến cho rằng, sự suy giảm của đồng USD chỉ xảy ra khi chu kỳ cắt giảm lãi suất đi đến hồi kết trong vài năm tiếp theo. Theo sự quan sát của ông nhiều năm qua, nhận định là chính xác hay không, vì sao?

Ông Trần Ngọc Báu: Tôi cho rằng, quan điểm này còn tùy vào tình huống kinh tế Mỹ có hạ cánh cứng hay không. Nếu kinh tế Mỹ hạ cánh cứng thì Mỹ phải hạ nhanh lãi suất về 0% và sau đó là nới lỏng định lượng, sức mạnh đồng USD có thể sẽ suy yếu nhanh. Trong tình huống này, nhận định nêu trên là chính xác.

Trong trường hợp kinh tế Mỹ hạ cánh mềm hoặc khả quan hơn là không hạ cánh, quan điểm trên lại không chính xác. Bởi đồng USD sẽ tiếp tục được hưởng lợi nhờ kinh tế Mỹ khỏe và lãi suất của Mỹ duy trì ở mức cao. Nếu các nền kinh tế lớn khác như Trung Quốc, EU và Nhật... tiếp tục lúng túng với câu chuyện phục hồi, đồng USD có thể còn mạnh mẽ hơn nữa, kể cả khi lãi suất của Mỹ kết thúc hành trình cắt giảm.

PV: Ông đánh giá thế nào về những biện pháp giảm căng thẳng tỷ giá, giữ sức mạnh đồng nội tệ năm vừa qua?

​​​​​​Ông Trần Ngọc Báu: Trong năm 2024, NHNN đã áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp để giảm căng thẳng tỷ giá trong bối cảnh áp lực từ toàn cầu là rất lớn. Các biện pháp này bao gồm bán ra thị trường khoảng 9,5 tỷ USD theo ước tính, đưa dự trữ ngoại hối về gần 81 tỷ USD. Điều này gián tiếp hút bớt khoảng 240 nghìn tỷ đồng ra khỏi nền kinh tế, từ đó, xoa dịu áp lực tỷ giá tại những giai đoạn mà nhu cầu USD thực để thanh toán cao điểm.

Nhận diện ba nhân tố khiến áp lực tỷ giá vẫn khó nguôi
Diễn biến tỷ giá và những biện pháp điều hành của NHNN.

Cũng trong năm vừa qua, nhà điều hành tăng lãi suất bán tín phiếu trên thị trường mở từ trung bình 3,9% lên 4%, song song với đó, hút bớt thanh khoản khỏi hệ thống, có thời điểm số dư tín phiếu đạt gần 93 nghìn tỷ đồng. Hành động này giúp duy trì lãi suất liên ngân hàng trong nước quanh mức 4%, không quá thấp so với lãi suất điều hành FED Fund Rate của Mỹ, từ đó, giảm tải áp lực lên đầu cơ tỷ giá ngắn hạn.

Mặt khác, NHNN tăng tỷ giá trung tâm từ 23.866 đồng/USD vào cuối năm 2023 lên 24.327 đồng/USD cuối năm 2024, song song với đó là tăng tỷ giá bán ra của NHNN từ 25.009 đồng/USD lên 25.450 đồng/USD vào cuối năm 2024. Hai hành động phối hợp đồng bộ, một mặt, giúp mở thêm không gian giúp tỷ giá bám sát diễn biến thị trường hơn nhưng cũng đảm bảo không biến động quá lớn gây áp lực đến nền kinh tế.

Cuối cùng, thanh kiểm tra, giám sát giao dịch ngoại hối chính thức tại các ngân hàng, tránh hiện tượng trục lợi, liên thông giữa thị trường chính thức và chợ đen. Đồng thời, thắt chặt các quy định về giao dịch ngoại tệ của các tổ chức tài chính và cá nhân, đặc biệt trong các thời điểm biến động căng thẳng. Tôi cho rằng, nhà điều hành sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường, giúp ổn định các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ, cán cân thanh toán và phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ năm 2025.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ba lợi ích lớn khi tiếp đà nới lỏng tiền tệ

Nhiều kỳ vọng đặt ra khi xu hướng nới lỏng tiền tệ toàn cầu tiếp tục triển khai năm 2025. Theo ông Trần Ngọc Báu, xu hướng nới lỏng của toàn cầu hiện nay là yếu tố quan trọng nhất tác động tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2024 vừa qua và cả năm 2025 - 2026. Xu hướng này mang lại ba lợi ích lớn cho kinh tế Việt Nam.

Thứ nhất, mở rộng không gian kích thích tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Hiện dự trữ ngoại hối còn khá mỏng, do đó, chính sách tiền tệ của Việt Nam gần như phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách tiền tệ của FED. "Chúng ta chỉ có thể nới lỏng hạ lãi suất hoặc bơm tiền vào nền kinh tế nếu như chính sách của FED cũng là nới lỏng. Họ nới lỏng càng nhanh và mạnh, chúng ta sẽ có nhiều không gian hơn hỗ trợ nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp" - lãnh đạo WiGroup nhìn nhận.

Thứ hai, giảm chênh lệch lãi suất USD và VND. Sự chênh lệch lãi suất cao khi Mỹ bước vào chu kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ đã kéo dòng vốn đầu tư dịch chuyển về Mỹ. Ở chiều ngược lại, điều này khiến dòng vốn từ khối ngoại trong nước bị thiếu hụt nghiêm trọng, gián tiếp gây thêm áp lực thiếu hụt nguồn vốn đầu tư trong nước. Khi sự chênh lệch lãi suất không còn, áp lực này sẽ được giải tỏa rất nhiều, chúng ta đang hy vọng tín hiệu tích cực hơn là có thể đảo ngược trạng thái này.

Thứ ba, nhu cầu quốc tế sẽ được kích thích trong trung hạn, nhờ chính sách tiền tệ mở rộng toàn cầu, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt trong các ngành chủ lực như dệt may, điện tử và nông sản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách thuế hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng

Chính sách thuế hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, để chính sách thuế thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030, cần thiết kế và triển khai đúng hướng. Thuế không chỉ là nguồn thu ngân sách, mà còn là công cụ chiến lược hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp và đóng góp cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Việt Nam có thể vươn lên như thế nào trong bối cảnh biến động toàn cầu?

Việt Nam có thể vươn lên như thế nào trong bối cảnh biến động toàn cầu?

(TBTCO) - Giữa những biến động phức tạp của kinh tế và địa chính trị toàn cầu, Việt Nam không chỉ đối mặt với rủi ro ngoại sinh mà còn đứng trước cơ hội bứt phá. GS. TS. Andreas Stoffers - Đại học Khoa học Ứng dụng FOM (Đức) nhận định, quá trình chuyển dịch sang tăng trưởng chất lượng cao cùng các cải cách gần đây đang mở ra “cửa sổ cơ hội” để Việt Nam nâng cao vị thế trong giai đoạn tới.
Tăng dự trữ dầu thô: “Lá chắn” an ninh năng lượng

Tăng dự trữ dầu thô: “Lá chắn” an ninh năng lượng

(TBTCO) - TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, việc mở rộng dự trữ dầu thô không chỉ là yêu cầu cấp bách để bảo đảm an ninh năng lượng, mà còn là “lá chắn” giúp nền kinh tế tăng khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Thu hút vốn dài hạn, tích lũy “nhiên liệu” để đất nước tăng tốc

Thu hút vốn dài hạn, tích lũy “nhiên liệu” để đất nước tăng tốc

(TBTCO) - Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam không chỉ cần thêm vốn, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực hấp thụ và sử dụng hiệu quả dòng vốn dài hạn. Theo ông Dương Thanh Tùng - Phó Tổng Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn chiến lược, rủi ro và giao dịch, Deloitte Việt Nam, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế là một cơ hội để xây dựng “hệ điều hành” giúp hoàn thiện thị trường vốn, củng cố niềm tin và thu hút đúng dòng vốn cho tăng trưởng bền vững.
Giảm trừ bổ sung chi phí y tế, giáo dục: Thể hiện sự đồng hành của nhà nước với người nộp thuế

Giảm trừ bổ sung chi phí y tế, giáo dục: Thể hiện sự đồng hành của nhà nước với người nộp thuế

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, PGS.TS Lê Xuân Trường, Trưởng Khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính) cho rằng, việc cho phép giảm trừ thêm các khoản chi phí y tế và giáo dục - đào tạo là các khoản giảm trừ bổ sung ngoài phần giảm trừ đã được thiết kế trong mức giảm trừ chung cho người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế thể hiện sự đồng hành, chia sẻ của Nhà nước với người nộp thuế.
Trái phiếu xanh bước vào giai đoạn tăng tốc

Trái phiếu xanh bước vào giai đoạn tăng tốc

(TBTCO) - Theo bà Đinh Thúy Hằng - Trưởng bộ phận Trái phiếu xanh và Tài chính bền vững, FiinRatings, thị trường trái phiếu xanh Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn khởi động sang tăng tốc với tín hiệu phục hồi tích cực, song vẫn còn nhiều thách thức như quy mô nhỏ, các rào cản về tiêu chuẩn, chi phí...
Tăng “sức đề kháng” an ninh năng lượng trước biến động Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” an ninh năng lượng trước biến động Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đặt ra những thách thức lớn đối với an ninh năng lượng của Việt Nam, từ nguồn cung đến giá cả. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam chỉ ra các “điểm yếu” mang tính cấu trúc, đồng thời đề xuất giải pháp cấp bách nhằm giảm phụ thuộc và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Xem thêm