Giá vàng thế giới vượt 2.900 USD/ounce, dự báo tiếp tục lên đỉnh thời đại

(TBTCO) - Chiều tối ngày 10/2, giá vàng thế giới giao ngay tăng dữ dội 45 USD/ounce, lên 2.905,6 USD/ounce, tương ứng tăng 1,58%. Theo giới phân tích, nhiều yếu tố tạo lực đẩy tăng giá vàng, trong đó có căng thẳng thương mại thời chính quyền Trump 2.0, dự báo giá vàng sẽ cán mốc 3.000 USD/ounce năm nay.
aa

Trong báo cáo mới đây của Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu của ngân hàng UOB (Singapore), thị trường vàng đang chứng kiến những diễn biến đáng chú ý và có khả năng cán mốc 3.000 USD/ounce cuối năm 2025.

Nhu cầu trú ẩn gia tăng đẩy giá vàng lên cao

Theo ngân hàng UOB, kể từ đầu năm, lượng vàng vật chất được giao vào sàn COMEX đã tăng đột biến, cùng với mức tăng mạnh trong kho dự trữ vàng vật chất tại sàn giao dịch này. Cùng với đó, nhiều thông tin trong ngành cho thấy việc vận chuyển một lượng lớn vàng vật chất từ London và châu Âu sang New York trong bối cảnh căng thẳng thương mại leo thang.

Giá vàng thế giới vượt 2.900 USD/ounce, dự báo tiếp tục lên đỉnh thời đại
Giá vàng thế giới vượt 2.900 USD/ounce, dự báo tiếp tục lên đỉnh thời đại. Ảnh tư liệu.

“Nhu cầu trú ẩn an toàn đối với vàng đang gia tăng, không chỉ từ các ngân hàng trung ương để tăng dự trữ mà còn từ các nhà đầu tư cá nhân trên toàn cầu. Quan trọng hơn, nhu cầu trú ẩn an toàn đối với vàng cũng đang giúp kim loại quý này tránh được áp lực tiêu cực từ đà tăng mạnh của đồng USD” - nhóm phân tích ngân hàng UOB nhận định.

Dự báo giá vàng cán mốc 3.000 USD/ounce năm nay

"Tổng hợp những yếu tố này, có thể thấy nhu cầu vàng vật chất tại Mỹ đang tăng lên đáng kể trong bối cảnh xung đột thương mại giữa Mỹ và các đối tác lớn ngày càng leo thang. Điều này củng cố mức phí bảo hiểm rủi ro trú ẩn an toàn đang tăng đối với vàng và củng cố triển vọng tích cực của chúng tôi với mức giá là 3.000 USD/ounce vào cuối năm 2025" - nhóm phân tích ngân hàng UOB dự báo.

Trong báo cáo xu hướng nhu cầu vàng hàng năm được Hội đồng vàng thế giới công bố, các ngân hàng trung ương đã mua hơn 1.000 tấn vàng vào năm 2024, xu hướng này kéo dài ba năm liên tiếp. Con số này chiếm khoảng 20% ​​tổng nhu cầu vào năm ngoái.

Nhờ đà tăng mạnh từ năm ngoái, giá vàng tiếp tục đi lên trong năm nay, từ mức 2.650 USD/ounce vào đầu tháng 1/2025 lên mức cao kỷ lục mới 2.820 USD/ounce.

Trong phiên giao dịch chiều tối ngày 10/2, giá vàng thế giới giao ngay tăng dữ dội 45 USD/ounce, lên 2.905,6 USD/ounce, tương ứng tăng 1,58% và thiết lập đỉnh mới.

Giá vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng ở mức khoảng 90,5 triệu đồng, bao gồm thuế và phí. Trên thị trường quốc tế, giá vàng tăng dựng đứng, co hẹp khoảng cách giá vàng bán ra trong nước và giá thế giới chỉ còn 800 nghìn đồng/lượng.

Căng thẳng thương mại thổi bùng giá vàng

Tin tức về việc áp thuế đối với Canada và Mexico đã gây chấn động khắp thị trường tài chính. Theo giới phân tích, việc áp thuế đối với các đối tác thương mại hàng đầu có nguy cơ thúc đẩy lạm phát và làm chậm tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia.

Thậm chí, chi phí nhập khẩu hàng hoá cao hơn sẽ làm bùng phát lại lạm phát và làm dấy lên lo ngại về tình trạng đình lạm (lạm phát cao hơn và tăng trưởng thấp hơn), khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có khả năng giữ nguyên lãi suất.

Giá vàng tăng 70% nhiệm kỳ trước của ông Trump

Thống kê cho thấy, trong nhiệm kỳ tổng thống trước của ông Trump, giá vàng đã tăng hơn 70%. Khi ông Trump nhậm chức vào tháng 1/2017, giá vàng được giao dịch ở mức dưới 1.200 USD/ounce. Trước khi kết thúc nhiệm kỳ vào tháng 1/2021, kim loại trú ẩn an toàn này đã đạt mức cao 2.089 USD/ounce vào giữa năm 2020.

Cuộc chiến thương mại Trump 2.0, cùng nỗi lo về một cuộc chiến tranh khu vực toàn diện ở Trung Đông, khiến giá vàng lên cơn sốt mới, tiếp tục hướng tới mức giá 3.000 USD/ounce.

Theo báo cáo gần đây của Ngân hàng trung ương Canada (BoC), mức thuế 25% của Mỹ với mức trả đũa toàn diện sẽ dẫn đến sụt giảm 2,5% GDP Canada vào năm 2025; 1,5% vào năm 2026 và khiến nền kinh tế Canada rơi vào suy thoái.

Sự hỗn loạn về địa chính trị và sự khó đoán định tác động đến thị trường tài chính, mức nợ công tăng theo cấp số nhân và sự bối rối của các thị trường xung quanh việc cuộc chiến tranh thương mại quay trở lại, tiếp tục là động lực tăng giá loại kim loại quý này.

Giá vàng thế giới vượt 2.900 USD/ounce, dự báo tiếp tục lên đỉnh thời đại
Cuộc chiến tranh thương mại quay trở lại tiếp tục là động lực tăng giá loại kim loại quý này. Ảnh tư liệu.

Chốt phiên chiều ngày 10/2, Công ty SJC bất ngờ điều chỉnh giá vàng miếng SJC tăng cả triệu đồng, lên 88,3 - 91,3 triệu đồng/lượng (mua-bán), tương ứng tăng lần lượt 1,5 triệu đồng/lượng chiều mua và 1 triệu đồng/lượng chiều bán.

Các công ty PNJ, DOJI, Bảo Tín Minh Châu, Phú Quý cũng đồng loạt niêm yết giá mới. Đơn cử, DOJI niêm yết giá mua 87,5 triệu đồng/lượng, tăng 700 nghìn đồng/lượng so với kết phiên hôm qua; giá bán tăng nhẹ 200 nghìn đồng, lên 90,5 triệu đồng/lượng. Sau khi đà tăng chững lại trước ngày vía Thần Tài, giá vàng miếng tiếp tục đà tăng.

Với vàng nhẫn, tại phiên chiều ngày 10/2, PNJ niêm yết giá bán vàng nhẫn cao nhất, lên tới 91,1 triệu đồng/lượng, tăng 1 triệu đồng/lượng; giá mua 88,3 triệu đồng/lượng, tăng mạnh 1,6 triệu đồng/lượng. Còn Công ty SJC niêm yết ở mức 88-90,7 triệu đồng/lượng (mua-bán).

Như vậy, giá vàng miếng đang hướng tới đỉnh lịch sử từng lập vào tháng 5 năm ngoái bán ra ở vùng 92,4 triệu đồng/lượng, đây là thời điểm trước khi Ngân hàng Nhà nước can thiệp vào thị trường vàng; trong khi đó, giá vàng nhẫn đang ở vùng đỉnh cao nhất từ trước tới nay.

Trong trường hợp giá vàng thế giới giao ngay giữ vững đà tăng suốt phiên giao dịch, giá vàng trong nước phiên ngày 11/2 dự báo sẽ tiếp tục đà tăng và chinh phục đỉnh cao mới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 03/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 03/09/2026 07:00
Ngân hàng