Giải mã hiện tượng vàng nóng ngoài thị trường, nguội lạnh trên sàn đấu thầu

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện giải pháp đấu thầu vàng, nhưng không khí trên sàn đấu thầu khá nguội lạnh tạo ra nghịch lý, trái ngược hoàn toàn với diễn biến của thị trường vàng bên ngoài. Trong đó, có nhiều lý do cho hiện tượng này gồm cả các yếu tố chủ quan lẫn các diễn biến khách quan hiện tại của thị trường tiền tệ trong và ngoài nước.
aa
Giải mã hiện tượng vàng nóng ngoài thị trường, nguội lạnh trên sàn đấu thầu
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Thị trường vàng bên nóng bên lạnh

Sau một số phiên đầu tiên Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức đấu thầu vàng miếng với mục đích tăng cung vàng miếng SJC ra thị trường, diễn biến các phiên đầu thầu cho thấy, các đơn vị tham gia đấu thầu vẫn có thái độ khá dửng dưng. Trong khi đó, bầu không khí trái ngược diễn ra ngoài thị trường khi vàng miếng SJC tiếp tục tăng giá và thiết lập các kỷ lục mới về giá.

NHNN cho biết, hoạt động đấu thầu vàng đang được cơ quan này triển khai nhằm tiếp tục thực hiện quyết liệt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về triển khai ngay các giải pháp bình ổn thị trường vàng để xử lý tình trạng chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế ở mức cao.

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền qua thị trường mở

Giai đoạn cuối tháng 4/2024, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có một số phiên bơm mạnh tiền qua thị trường mở thông qua mua tín phiếu. Chẳng hạn trong phiên 23/4, NHNN mua vào lượng tín phiếu trị giá lên tới 36 nghìn tỷ đồng, các phiên 24 và 25/4 tiếp tục mua vào mỗi phiên 25 nghìn tỷ đồng, phiên 26/4 mua vào hơn 23 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, động thái bơm tiền của NHNN trên thị trường mở đã có phần chững lại vào đầu tháng 5/2024.

Cho đến thời điểm này, chỉ mới có 1 phiên đấu thầu diễn ra thành công, trong khi một số phiên khác dự kiến tổ chức đã không thực hiện được do không đủ số thành viên đăng ký và đặt cọc, hoặc có phiên chỉ có một thành viên nộp phiếu dự thầu. Một phiên duy nhất thành công có kết quả 34 lô vàng miếng SJC được bán, tương ứng với 3.400 lượng vàng. Giá trúng thầu cao nhất là 81,33 triệu đồng/lượng, giá trúng thầu thấp nhất là 81,32 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, ngay cả với phiên đấu thầu thành công duy nhất này thì tổng lượng bán bán được cũng chỉ tương đương khoảng hơn 20% tổng lượng vàng được đưa ra đấu thầu.

Trong khi đó, trái ngược với bầu không khí nguội lạnh trên sàn đấu thầu, thị trường vàng miếng SJC bên ngoài lại tiếp tục nóng lên và thiết lập kỷ lục mới. Đến thời điểm sáng ngày 7/5, vàng miếng SJC bên ngoài thị trường đã cán mốc 84,6 triệu đồng/lượng mua vào và 86,8 triệu đồng/lượng bán ra.

Biến động giá vàng miếng ngoài thị trường cho thấy, chênh lệch của loại vàng này so với giá các loại vàng khác và giá vàng thế giới sau một số phiên đấu thầu vàng vẫn chưa được khắc phục. Với mức giá tại thời điểm sáng ngày 7/5, giá vàng miếng SJC vẫn cao hơn vàng nhẫn khoảng 11,6 triệu đồng lượng. Mức chênh lệch này tuy đã thấp hơn thời điểm nửa cuối năm 2023, nhưng cũng đang có xu hướng giãn ra so với thời điểm đầu tháng 4, khi đó có lúc chênh lệch 2 loại vàng này đã xuống dưới 10 triệu đồng/lượng.

Thế khó ở cả trong lẫn ngoài

Mổ xẻ nguyên nhân về thực trạng các đơn vị tham gia đấu thầu tỏ ra không nồng nhiệt với hoạt động đấu thầu, cũng có nhiều ý kiến quan điểm khác nhau. Một số chuyên gia cho rằng, giá khởi điểm mà NHNN đưa ra để đấu thầu vẫn còn cao, chưa hấp dẫn các thành viên, trong khi cũng có ý kiến cho rằng, khối lượng đặt thầu tối thiểu là 1.400 lượng vàng là khá lớn, dẫn đến việc hạn chế khả năng dự thầu của các đơn vị, doanh nghiệp.

Ông Phạm Viết Thuận - Viện trưởng Viện kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh cho biết, khi tham đấu thầu thì mục tiêu của các doanh nghiệp là lợi nhuận. Do đó, lợi nhuận đó nếu không đạt theo kỳ vọng thì cũng khó thu hút để họ tham gia. Trong khi đó, TS. Đinh Trọng Thịnh - Chuyên gia kinh tế cho biết, các doanh nghiệp kinh doanh vàng họ cũng chưa thực sự thiếu vàng SJC như chúng ta tưởng.

Mặc dù vậy, thời gian qua đúng thời điểm NHNN tổ chức các đợt đấu thầu thì thị trường cũng đối diện với một số biến động khác, đặc biệt là dòng tiền đã có xu hướng khan hiếm hơn so với thời điểm đầu năm 2024.

Một trong những tín hiệu cho thấy dòng tiền có phần không còn dồi dào là lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã tăng khá cao. Hiện tại, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng đã tăng lên mức 4,31%, cao hơn khá nhiều so với thời điểm vùng đáy của lãi suất này hồi tháng 3/2024, khi có lúc xuống chỉ còn 0,13%. Trong khi đó, nhiều tín hiệu khác về dòng tiền đang không còn dồi dào cũng thể hiện khá rõ qua việc nhiều ngân hàng thương mại liên tục tăng lãi suất huy động trong giai đoạn trước và sau đợt nghỉ lễ 30/4 - 1/5. Trong khi đó, NHNN trong một số phiên đã phải bơm mạnh tiền qua thị trường mở.

Trong khi đó với yếu tố bên ngoài, giá vàng thế giới cũng vừa trải qua những nhịp điều chỉnh khá mạnh. Sau khi vượt mốc 2.400 USD/ounce, giá vàng thế giới đã có một số phiên rơi rất mạnh trong giai đoạn từ 19 - 23/4, sau đó diễn biến theo xu hướng trồi sụt thất thường. Đặc biệt sau phiên họp của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) kết thúc hôm 1/5, giá vàng thế giới cũng bị bán mạnh và điều chỉnh giảm sâu có lúc về chỉ còn 2.287 USD/ounce. Đến thời điểm này, giá vàng thế giới đã phục hồi phần nào sau đợt điều chỉnh những ngày đầu tháng 5, nhưng xu hướng sắp tới cũng không dễ phán đoán./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm xuống 4.271 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, trong đó vàng miếng giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce, lùi về 4.295 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chốt phiên trước tăng tới 600.000 đồng/lượng, lên 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 14,250
Miếng SJC Nghệ An 13,950 14,250
Miếng SJC Thái Bình 13,950 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 14,250
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 14,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 14,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 142
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 139,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 105,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 9,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 86,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 82,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 58,953
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cập nhật: 30/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17916 18492
CAD 17766 18040 18659
CHF 30521 30897 31550
CNY 0 3832 3928
EUR 28844 29062 30146
GBP 33580 33968 34906
HKD 0 3179 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14380 14968
SGD 19787 20069 20640
THB 690 753 806
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Cập nhật: 30/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30