Nga bị loại khỏi hệ thống tài chính liên ngân hàng:

Giải pháp tình thế cho các ngân hàng, doanh nghiệp Việt

Gia Cư (thực hiện)
(TBTCO) - Việc Nga bị phương Tây loại khỏi hệ thống tài chính liên ngân hàng quốc tế đang là vấn đề nóng, được cả thế giới quan tâm và lo ngại. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ bởi sự ảnh hưởng không nhỏ đối với hệ thống thanh toán giao dịch ngân hàng và giao thương xuất nhập khẩu… Phóng viên TBTCVN vừa có cuộc trao đổi với PGS.TS Phan Thị Hằng Nga - Phụ trách Phòng Quản lý khoa học, Trường Đại học Tài chính – Maketing, để có thêm cách tiếp cận và góc nhìn thấu đáo hơn về nội dung này.
aa
Giải pháp tình thế cho các ngân hàng, doanh nghiệp Việt
Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu là hệ thống thanh toán
được sử dụng phổ biến hiện nay.

PV: Dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu khoa học, bà có thể phân tích sâu hơn những khía cạnh và sự ảnh hưởng tiêu cực của hệ thống thanh toán toàn cầu giữa Nga với các đối tác, trong đó có Việt Nam tại thời điểm này?

PGS.TS Phan Thị Hằng Nga: Theo tôi, Liên bang Nga bị hạn chế tiếp cận hệ thống Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication - SWIFT) sẽ làm ảnh hưởng đến hệ thống thanh toán quốc tế của quốc gia này, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến các quốc gia khác có mối quan hệ với Nga trên tất cả các phương diện: kinh tế, du lịch, giáo dục, y tế,… trong đó có Việt Nam.

Giải pháp tình thế cho các ngân hàng, doanh nghiệp Việt
PGS.TS Phan Thị Hằng Nga

Thứ nhất, SWIFT là một tổ chức độc lập có trụ sở tại Bỉ, hệ thống này cho phép các ngân hàng thuộc thành viên được thực hiện chuyển tiền bằng tin nhắn và hiện nay, SWIFT có hơn 11.000 ngân hàng thành viên và tổ chức tài chính tại hơn 200 quốc gia. Theo báo cáo của hiệp hội này vào tháng 12/2021 cho thấy hàng ngày có hơn 40 triệu tin nhắn với lệnh chuyển hàng tỷ USD được gửi đi thông qua SWIFT. Trong đó, Nga có 291 thành viên ngân hàng nằm trong hệ thống SWIFT, đại diện cho 1,5% luồng giao dịch. Ước tính giá trị giao dịch khoảng 800 tỷ USD mỗi năm.

Thứ hai, SWIFT là hệ thống thanh toán được sử dụng phổ biến hiện nay (theo thống kê của các ngân hàng có trên 80% các giao dịch của các nước với nhau), vì đây là hệ thống thanh toán toàn cầu hiện đại, nhanh chóng, độ bảo mật rất cao và chi phí thấp hơn các giao dịch thanh toán truyền thống khác (thư tín, telex). Như vậy, các nước có quan hệ kinh tế với Liên bang Nga tất yếu sẽ bị ảnh hưởng khi hệ thống thanh toán bị gián đoạn.

Thứ ba, Liên bang Nga có mối quan hệ kinh tế với hầu hết các tổ chức kinh tế trên thế giới, trong đó có các quốc gia thuộc ASEAN và Việt Nam. Do đó, các quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, tổ chức của các quốc gia này với Nga sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp khi Nga bị phương Tây loại khỏi hệ thống SWIFT, bởi hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh, phục vụ cộng đồng, phát triển giáo dục, y tế,… đều bị ngưng trệ trong khâu thanh toán do hệ thống thanh toán quốc tế chủ yếu được thực hiện qua hệ thống SWIFT. Như vậy, dòng chảy vốn từ Nga về Việt Nam và từ Việt Nam sang Nga cũng bị ảnh hưởng.

Thứ tư, chiến sự giữa Nga – Ukraine vẫn đang diễn biến phức tạp, không loại trừ sẽ có thêm những hạn chế nữa dành cho Nga trong các hoạt động kinh tế. Vì vậy dự báo sẽ có nhiều khó khăn trong hoạt động thương mại nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng của Nga với các quốc gia, trong đó cả Việt Nam.

PV: Theo bà, mức độ ảnh hưởng cụ thể đối với một số ngành, lĩnh vực sẽ ra sao? Trọng điểm sẽ là những ngành, lĩnh vực nào?

PGS.TS Phan Thị Hằng Nga: Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nga trong năm 2021 đạt 7,14 tỷ USD tăng 25,9% so với năm 2020 và đứng thứ 21 trong số các đối tác thương mại chính của Liên bang Nga.

Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Nga trong khu vực ASEAN và là đối tác lớn thứ 5 trong các nền kinh tế APEC (sau Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản). Trong đó, Việt Nam đứng thứ 39 trong số các đối tác thương mại của Nga và đứng thứ 12 trong các đối tác nhập khẩu chính của Nga. Việt Nam xuất siêu sang Nga 2,65 tỷ USD trong năm 2021.

Còn theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, các giao dịch thanh toán quốc tế tại Việt Nam thực hiện bằng dịch vụ chuyển tiền quốc tế qua hệ thống SWIFT và dịch vụ chuyển tiền Western Union (WU) do các tổ chức tín dụng trong nước trực tiếp thỏa thuận, ký kết tham gia, hợp tác với các tổ chức quốc tế. Trong đó thanh toán qua hệ thống SWIFT hiện là chủ yếu và chủ lực.

Như vậy các ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng sẽ là những ngành, lĩnh vực có hoạt động xuất nhập với giá trị lớn và thường xuyên giữa Việt Nam và Liên bang Nga có thanh toán qua hệ thống SWIFT, trong đó chú trọng nhất là những ngành: nông sản (lúa mì, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, rau quả), thủy sản; dệt may; hóa chất; xăng dầu; sắt thép; kim loại. Các ngành này hiện chiếm giá trị rất cao (hơn 80%) trong tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Liên bang Nga.

PV: Xét ở tầm vĩ mô cũng như vi mô, ngay lúc này phía đối tác Việt Nam, cụ thể là các ngân hàng, doanh nghiệp có kết giao thanh toán tài chính với phía Nga cần phải làm gì để ứng phó, tránh những rủi ro, giảm thiểu thiệt hại?

PGS.TS Phan Thị Hằng Nga: Việc bị loại khỏi SWIFT có nghĩa là Nga bị cắt đứt hoàn toàn quan hệ với hệ thống thanh toán bên ngoài nước Nga khiến cho việc thanh toán, mua bán hàng hóa giữa Việt Nam với Nga bao gồm cả tư nhân lẫn nhà nước có thể gặp khó khăn. Do đó để hạn chế bị ảnh hưởng bởi sự việc này, Việt Nam cần có giải pháp ở cấp độ vĩ mô và vi mô.

Cụ thể, về phía các doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Các doanh nghiệp Việt Nam cần tiến hành đàm phán với các đối tác của Nga khi gặp khó khăn ở khâu thanh toán như kéo dài thời gian giao hàng hoặc kéo dài thời gian thanh toán, hoặc thay đổi người thụ hưởng là bên thứ ba, có quan hệ hợp tác với doanh nghiệp của Nga và ở quốc gia khác. Thanh toán quốc tế diễn ra ba bên tương đối phổ biến nên việc lựa chọn một bên thứ ba làm cầu nối thanh toán sẽ khả thi.

Hiện nay có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam có thể thoả thuận với các doanh nghiệp của Nga ký kết phụ lục hợp đồng chuyển đổi phương thức thanh toán như phương thức thanh toán ghi sổ (giao hàng nhiều lần rồi mới thanh toán).

Cùng với đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần mở rộng thị trường quốc tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu để tránh tình trạng quá phụ thuộc vào hoạt động xuất nhập khẩu với Nga. Khi gặp khó khăn vẫn có thể có những thị trường thay thế để đảm bảo hoạt động kinh doanh sản xuất.

Về phía các ngân hàng: Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần đầu tư hệ thống công nghệ tốt để có thể chọn lựa nhiều phương thức thanh toán thay thế hợp lý, đàm phán thêm với Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga (VRB) vì ngân hàng này có giấy phép tham gia kênh thanh toán riêng sang Nga, cung cấp dịch vụ chuyển tiền song phương trực tiếp Việt - Nga, giúp các khách hàng và doanh nghiệp thực hiện các kênh thanh toán quốc tế giữa 2 nước được thuận lợi.

Tuy nhiên, các giải pháp này chỉ mang tính tình thế và khó có thể tháo gỡ hoàn toàn các khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải. Cần có các giải pháp ở cấp độ vĩ mô từ phía Nhà nước, như cần có bộ phận hỗ trợ chuyên trách về yếu tố pháp lý, khi các hợp đồng thương mại giữa các công ty Việt Nam và Nga đã ký kết gặp khó khăn. Chính phủ cũng cần xem xét, đánh giá các rủi ro khi Việt Nam có nên tham gia thêm các tổ chức thanh toán quốc tế khác ngoài SWIFT hay không. Bởi vì, các quốc gia trên thế giới đều chủ yếu giao dịch thanh toán quốc tế thông qua hệ thống SWIFT.

PV: Xin cảm ơn bà!

Những ngành, lĩnh vực có hoạt động xuất nhập khẩu giá trị lớn
sẽ bị ảnh hưởng

Các ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng sẽ là những ngành, lĩnh vực có hoạt động xuất nhập với giá trị lớn và thường xuyên giữa Việt Nam và Liên bang Nga có thanh toán qua hệ thống SWIFT, trong đó chú trọng nhất là những ngành: nông sản (lúa mì, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, rau quả), thủy sản; dệt may; hóa chất; xăng dầu; sắt thép; kim loại. Các ngành này hiện chiếm giá trị rất cao (hơn 80%) trong tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Liên bang Nga.

Gia Cư (thực hiện)

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Bảo Việt Nhân thọ chính thức triển khai chương trình tri ân lớn nhất năm - “Trọn Vạn Dặm An”, với tổng giá trị quà tặng lên đến 11 tỷ đồng cùng hàng loạt giải thưởng hấp dẫn như ô tô và xe máy điện VinFast dành cho khách hàng trên toàn quốc.
Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 15,850
Kim TT/AVPL 15,550 15,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 15,850
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 15,500
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 15,480
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 155,500 158,500
Hà Nội - PNJ 155,500 158,500
Đà Nẵng - PNJ 155,500 158,500
Miền Tây - PNJ 155,500 158,500
Tây Nguyên - PNJ 155,500 158,500
Đông Nam Bộ - PNJ 155,500 158,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 15,850
Miếng SJC Nghệ An 15,550 15,850
Miếng SJC Thái Bình 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 15,850
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,040 15,740
Trang sức 99.99 15,050 15,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 15,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 15,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 1,583
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 1,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 1,568
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 155,248
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 117,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 106,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 95,808
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 91,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 65,542
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cập nhật: 02/06/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18347 18623 19204
CAD 18509 18786 19405
CHF 32896 33281 33941
CNY 0 3849 3942
EUR 30023 30296 31327
GBP 34617 35009 35947
HKD 0 3227 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15945
SGD 20054 20337 20867
THB 723 786 840
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,114 26,114 26,394
USD(1-2-5) 25,070 - -
USD(10-20) 25,070 - -
EUR 30,200 30,224 31,546
JPY 160.8 161.09 170.14
GBP 34,868 34,962 36,028
AUD 18,585 18,652 19,282
CAD 18,740 18,800 19,419
CHF 33,259 33,362 34,218
SGD 20,211 20,274 20,995
CNY - 3,821 3,952
HKD 3,296 3,306 3,431
KRW 16.16 16.85 18.26
THB 772.31 781.85 833.59
NZD 15,392 15,535 15,935
SEK - 2,802 2,889
DKK - 4,041 4,167
NOK - 2,801 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.15 - 6,986.39
TWD 759.38 - 916.39
SAR - 6,905.92 7,245.6
KWD - 83,643 88,650
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,104 26,124 26,394
EUR 30,081 30,202 31,404
GBP 34,768 34,908 35,942
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 33,047 33,180 34,129
JPY 161.14 161.79 169.21
AUD 18,550 18,624 19,228
SGD 20,242 20,323 20,920
THB 788 791 826
CAD 18,712 18,787 19,370
NZD 15,477 16,026
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26172 26172 26394
AUD 18543 18643 19568
CAD 18696 18796 19810
CHF 33164 33194 34777
CNY 3830.7 3855.7 3990.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30214 30244 31967
GBP 34923 34973 36731
HKD 0 3355 0
JPY 161.54 162.04 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15464 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20217 20347 21075
THB 0 752.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/06/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80