Kịch bản nào cho giá vàng năm 2025?

Khánh Linh
(TBTCO) - Nhiều khả năng giá vàng còn tiếp tục tăng trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước cần có những giải pháp phù hợp để bình ổn giá vàng và đưa giá vàng trong nước tiệm cận với giá vàng thế giới.
aa
Giá vàng hôm nay (12/1): Tăng mạnh ở chiều mua, vàng nhẫn sát mốc 87 triệu Ngân hàng trung ương Trung Quốc tiếp tục tăng dự trữ vàng

Hai kịch bản giá vàng năm 2025

Dự báo các kịch bản về giá vàng thế giới và tác động đến giá vàng và tỷ giá trong nước trong năm 2025, ThS. Vũ Thị Đào - Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho biết, kịch bản thứ nhất, nếu tăng trưởng toàn cầu chậm hơn kỳ vọng và khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra cùng với các bất ổn địa chính trị gia tăng, nhu cầu vàng toàn cầu có thể tiếp tục tăng so với năm 2024 đẩy giá vàng thế giới tăng cao như nhiều nhận định của các tổ chức kinh tế thế giới, sẽ tác động làm VND giảm giá, tỷ giá USD/VND tăng.

"Với kịch bản này, khi giá vàng thế giới tăng kéo theo giá vàng trong nước cũng tăng theo, cùng với những bất ổn kinh tế thế giới khiến cho nhu cầu tích trữ vàng trong dân càng lớn. Nhà nước cần có những giải pháp để thu hút nguồn vàng trong dân để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội" - ThS. Vũ Thị Đào phân tích.

Kịch bản nào cho giá vàng năm 2025?
Nhiều khả năng giá vàng còn tiếp tục tăng trong năm 2025. Ảnh: TL
Các nhà phân tích ở Phố Wall dự báo, giá vàng sẽ tiếp tục tăng trong năm 2025, nhưng mức tăng có thể sẽ khiêm tốn hơn so với thành quả tăng 27% của năm 2024...

Kịch bản thứ hai, nếu FED và các ngân hàng trung ương lớn tăng lãi suất để đối phó với lạm phát, đưa lạm phát về mức thấp hơn năm 2024 làm cho vàng có thể trở nên kém hấp dẫn do chi phí cơ hội cao hơn. Khi đó, giá vàng thế giới giảm, giá vàng trong nước cũng giảm theo và không gây áp lực lên tỷ giá hối đoái.

Ở góc nhìn khác, Chuyên gia kinh tế Định Trọng Thịnh cho hay, năm 2025, nền kinh tế thế giới sẽ ổn hơn, các cuộc xung đột sẽ dịu bớt đi. Nền kinh tế của Mỹ sẽ mạnh lên trước các quyết sách của Tổng thống Donald Trump, là những yếu tố khiến giá vàng xuống, ổn định hơn.

Ông Ngô Thành Huấn - Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và quản lý tài sản FIDT cũng cho rằng, theo nguyên lý, khi kinh tế hồi phục thì vàng sẽ bước vào giai đoạn “ngủ đông”. Dẫn chứng giai đoạn từ năm 2013 - 2019, sau khi tăng mạnh, giá vàng trong nước đã giảm từ 48 triệu đồng/lượng xuống 36 triệu đồng/lượng và đi ngang suốt 6 năm này. Đối chiếu với giai đoạn 2025, ông Huấn cho rằng đây là giai đoạn tiền phục hồi của nền kinh tế Việt Nam, do đó vàng sẽ tăng chậm lại. Đồng thời, khuyến nghị các nhà đầu tư trong thời gian tới, đặc biệt từ năm 2026, nên hạn chế đầu tư vào vàng.

Cần linh hoạt trong hoạt động quản lý nhà nước đối với thị trường vàng

Khuyến nghị trong công tác quản lý thị trường vàng thời gian tới, Ths. Vũ Thị Đào cũng cho hay, trước tiên cần xây dựng mục tiêu trong hoạt động quản lý nhà nước đối với thị trường vàng cụ thể và xác định lộ trình cho việc thực hiện.

Theo đó, mục tiêu quản lý nhà nước đối với thị trường vàng cần linh hoạt với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, không có một chính sách một biện pháp nào đúng cho mọi giai đoạn. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần nhận thức được sự chuyển động và đòi hỏi không ngừng của nền kinh tế, kết hợp hài hòa giữa mục tiêu quản lý với lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng, trong đó lợi ích quốc gia được đặt lên hàng đầu...

Bên cạnh đó, cần dỡ bỏ chính sách độc quyền sản xuất vàng miếng, đơn giản hóa chính sách nhập khẩu vàng nguyên liệu.

Cùng với đó, xây dựng cơ sở pháp lý cho việc thiết lập và vận hành hoạt động của mô hình sàn vàng tập trung bên cạnh việc duy trì thị trường tự do với mạng lưới các cơ sở kinh doanh vàng hiện nay. Sự cho phép sàn vàng hoạt động trở lại là điều kiện cho việc đáp ứng yêu cầu thu hút nguồn vàng trong dân chúng tới với kênh đầu tư chính thức, đem lại nguồn cung vàng ổn định cho doanh nghiệp, đem lại khả năng nắm bắt về cung – cầu vàng cho NHNN...

Kịch bản nào cho giá vàng năm 2025?
Nhà nước cần tăng cường thanh tra, kiểm soát, giám sát chặt chẽ đối với thị trường vàng. Ảnh: TL

Ngoài ra, tất cả các điểm kinh doanh vàng phải đăng ký và quản lý chặt chẽ về khối lượng giao dịch. Với công nghệ hiện nay có thể quản lý chặt chẽ khối lượng giao dịch của các điểm kinh doanh vàng. Như vậy, sẽ triệt tiêu các lợi ích, động cơ không trong sáng với thị trường vàng.

Cuối cùng, "Nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, giám sát chặt chẽ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm đối với thị trường vàng, hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, các cửa hàng, đại lý phân phối và mua bán vàng miếng và các chủ thể khác tham gia thị trường; kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập để xử lý chủ động, tích cực, hiệu quả theo thẩm quyền...; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật, nhất là các hành vi buôn lậu, trục lợi, đầu cơ, thao túng, lợi dụng chính sách đẩy giá của các tổ chức, cá nhân... gây mất ổn định, an toàn thị trường vàng..." - Ths. Vũ Thị Đào khuyến nghị.

Theo Chuyên gia tài chính - ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu, dù giá vàng thế giới diễn biến theo chiều hướng nào thì trong nước, việc cơ quan quản lý siết chặt thị trường vàng và diễn biến tỷ giá hiện nay đều không có lợi cho việc đầu tư vàng./.

Nhìn lại năm 2024, giá vàng trong nước và thế giới đều biến động mạnh, có lúc giá vàng SJC đã đạt mốc cao nhất lịch sử là 92 triệu đồng/lượng, trong khi giá vàng trên thế giới đạt đỉnh cao kỷ lục gần 2.790 USD/ounce. Tuy nhiên, các đợt tăng giá thời gian qua cho thấy, những biến động của giá vàng không tác động tiêu cực đến các biến số kinh tế vĩ mô ở Việt Nam do chủ trương ổn định kinh tế vĩ mô, chống vàng hóa, đô la hóa nền kinh tế thông qua việc kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá.

Khánh Linh

Đọc thêm

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

(TBTCO) - Mở rộng điều tra Chuyên án 268V, Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố thêm 4 bị can, thu giữ thêm 354 viên kim cương và tiếp tục làm rõ đường dây buôn lậu đưa kim cương vào hệ thống SJC để tiêu thụ.
Giá vàng hôm nay ngày 22/7: Vàng thế giới bật tăng gần 70 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 22/7: Vàng thế giới bật tăng gần 70 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 70 USD/ounce, lên khoảng 4.080 USD/ounce nhờ kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng địa chính trị. Trong nước, giá vàng miếng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp, trong khi vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh, có nơi tăng tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại. Tuy vậy, mức tăng không lớn và không đồng đều giữa chiều mua - bán.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 26/07/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/07/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80