KienlongBank lọt top 10 ngân hàng có chỉ số EPS cao nhất 4 quý gần nhất

(TBTCO) - Trong quý I/2025, KienlongBank (mã Ck: KLB) bứt phá với lợi nhuận trước thuế đạt 356 tỷ đồng, tăng 66% so với cùng kỳ, nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ từ tín dụng, dịch vụ ngân hàng số và chiến lược phân lớp khách hàng tinh tế. Tổng tài sản chạm mốc 97.164 tỷ đồng, với hơn 95% giao dịch qua kênh số, đưa ngân hàng vào top 10 ngân hàng có chỉ số EPS (lợi nhuận sau thuế trên mỗi cổ phiếu) cao nhất 4 quý gần nhất.
aa
KienlongBank tổ chức thành công Đại hội cổ đông bất thường 2024
KienlongBank tiên phong triển khai đồng bộ cả 2 dự án Basel III và ESG
KienlongBank ra mắt Ngân hàng số X-Digi: Cách mạng hóa hành trình dịch vụ khách hàng

Dấu ấn số với kết quả kinh doanh tích cực

Quý I/2025, KienlongBank ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế đạt 356 tỷ đồng, tăng 66% so với cùng kỳ năm 2024, mang về 285 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế hợp nhất. Sự tăng trưởng lợi nhuận trong quý phần lớn đến từ mảng kinh doanh chủ lực từ hoạt động tín dụng, dịch vụ ngân hàng số với 160 tỷ đồng. Ngoài ra, thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và hoạt động kinh doanh khác mang về lần lượt 21 tỷ đồng và 103 tỷ đồng, tương đương với mức tăng trưởng lần lượt 91% và 26%.

KienlongBank lọt top 10 ngân hàng có chỉ số EPS cao nhất 4 quý gần nhất
KienlongBank kỳ vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng tín dụng, hoàn thành các mục tiêu được đề ra cho năm 2025.

Tính đến ngày 31/3/2025, với hơn 95% số lượng giao dịch khách hàng được thực hiện qua kênh số, các hoạt động kinh doanh tích cực đã góp phần nâng tổng tài sản của KienlongBank đạt 97.164 tỷ đồng, tăng 4.988 tỷ đồng so với cuối năm 2024. Tiền gửi khách hàng đạt 70.989 tỷ đồng, tăng 7.468 tỷ đồng; cho vay khách hàng đạt 66.941 tỷ đồng, tăng 6.490 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng gần 11% so với cuối năm 2024, cao gần gấp 3 so với mức tăng trưởng chung của toàn hệ thống (3,93%).

Sự tăng trưởng tín dụng của KienlongBank phản ánh thành công của chiến lược phân lớp với 03 tệp khách hàng mục tiêu bao gồm: tệp khách hàng tại khu vực nông thôn; tệp khách hàng tại khu vực thành thị và tệp khách hàng tài chính số nhằm định hướng sản phẩm, chính sách tín dụng phù hợp theo đặc điểm của từng tệp khách hàng này.

Từ chiến lược đó, KienlongBank kỳ vọng sẽ duy trì đà tăng trưởng tín dụng, hoàn thành các mục tiêu được đề ra cho năm 2025. Với sự nỗ lực của toàn hệ thống đã giúp KienlongBank vươn lên lọt top 10 ngân hàng có chỉ số EPS cao nhất trong 4 quý gần đây.

Bên cạnh đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của KienlongBank tính đến cuối quý I/2025 đạt 73%, thuộc nhóm cao trong ngành. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát chặt chẽ ở mức dưới 3%, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của toàn ngành, phản ánh chất lượng tài sản vượt trội và chiến lược tín dụng thận trọng và luôn luôn tuân thủ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.

Xây dựng khung nhân sự 5.0 cho giai đoạn chuyển mình mới 2025 - 2030

Với mục tiêu tự động hóa 80% quy trình hoạt động chính, tối ưu 30% hiệu suất hoạt động, nhân sự và công nghệ đã và đang trở thành động lực chính, được kỳ vọng sẽ giúp KienlongBank bứt phá mạnh mẽ, đón đầu và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của kỷ nguyên tài chính số. Theo đó, Ngân hàng đã tập trung vào việc tinh gọn cơ cấu và bộ máy hoạt động; hợp nhất, sắp xếp các phòng/ban/khối theo hướng gọn, hiệu quả; giảm thiểu tối đa các vai trò trung gian nhằm tiết giảm thời gian, tối ưu quy trình đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành, gia tăng hơn nữa trải nghiệm cho khách hàng.

Dựa trên những chính sách nhân sự vượt trội, chế độ đãi ngộ hấp dẫn và môi trường làm việc năng động, trẻ trung, KienlongBank đã được World Economic Magazine vinh danh “Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2024”.

Quyết liệt và kiên định với mục tiêu đó, trong quý, KienlongBank cũng đã chú trọng với các hoạt động đầu tư vào công nghệ và nhân sự. Ngân hàng đã bắt tay vào tích hợp GenAI vào các sản phẩm, nghiệp vụ và quản trị cũng như đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nâng cao nhận thức của cán bộ nhân viên theo khung chuẩn năng lực nhân sự 5.0 mới, đổi mới tư duy ở mỗi cán bộ nhân viên nhằm thích nghi với sự phát triển như vũ bão của công nghệ. Đồng thời với đó, KienlongBank cũng chủ động bồi dưỡng và tự lực nguồn nhân sự chất lượng cao, xây dựng đội ngũ kế cận, tạo cơ hội để thế hệ nhân sự trẻ kiến tạo và đóng góp vào sự phát triển của Ngân hàng.

KienlongBank lọt top 10 ngân hàng có chỉ số EPS cao nhất 4 quý gần nhất
KienlongBank ban hành nhiều chính sách nhân sự vượt trội, chế độ đãi ngộ hấp dẫn và môi trường làm việc năng động, trẻ trung.

KienlongBank cũng đã ban hành nhiều chính sách gia tăng phúc lợi và thu nhập cho cán bộ nhân viên, tạo môi trường làm việc lý tưởng để nhân sự có các cơ hội thăng tiến trong công việc. Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng nỗ lực trong việc hoàn thiện chuỗi giá trị; mở rộng mạng lưới đối tác; tối ưu hoá quản trị thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa chuyển đổi số nội bộ... Dựa trên những chính sách nhân sự vượt trội, chế độ đãi ngộ hấp dẫn và môi trường làm việc năng động, trẻ trung, KienlongBank đã được World Economic Magazine vinh danh “Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2024”.

Với những thành tựu ấn tượng trong quý I/2025, từ lợi nhuận tăng trưởng vượt bậc, chất lượng tài sản vượt trội đến chiến lược chuyển đổi số và nhân sự 5.0 đột phá, KienlongBank không chỉ khẳng định vị thế trong top 10 ngân hàng có EPS cao nhất mà còn đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển bền vững. Đây vừa là dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Ngân hàng (1995 - 2025), vừa là bước chuyển giao giữa giai đoạn chuyển mình sang ngân hàng số (2021 - 2025) và hướng đến định vị về một ngân hàng AI, làm chủ các công nghệ tiên tiến (2025 - 2030).

Hành trình tiên phong ứng dụng công nghệ, tối ưu hóa quy trình và đầu tư vào con người hứa hẹn sẽ giúp KienlongBank tiếp tục bứt phá, đáp ứng kỳ vọng của khách hàng và cổ đông, đồng thời dẫn đầu xu hướng tài chính số trong tương lai. Với một định hướng đúng đắn, kế hoạch hành động chi tiết, sự quyết liệt của cả một hệ thống, KienlongBank chắc chắn sẽ có nhiều sự đổi thay trong việc tái định hình mạng lưới kinh doanh, thân thuộc, thuận tiện và hiệu quả hơn./.

Hải Băng

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,550 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,300 13,500
Nguyên Liệu 99.9 13,250 13,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 148,500
Hà Nội - PNJ 145,500 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,500 148,500
Miền Tây - PNJ 145,500 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,500 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 14,800
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,990 14,690
Trang sức 99.99 14,000 14,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 1,484
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 1,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 1,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 145,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 110,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 100,052
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 89,768
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 85,801
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 61,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 28/06/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/06/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80