Lãi suất huy động sẽ chịu áp lực tăng nhẹ

Thái Duy
Mặt bằng lãi suất cho vay sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp trong thời gian tới, trong khi đó, lãi suất huy động sẽ phải chịu áp lực tăng nhẹ bởi thông tư quy định tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sẽ có hiệu lực vào tháng 10 tới đây.
aa

Lãi suất liên ngân hàng giảm trong tháng 8

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần của SSI Research cho biết, các hoạt động thị trường mở không phát sinh giao dịch mới trong tuần qua. Trong khi đó, việc thực hiện các hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn 6 tháng giai đoạn tháng 1 và tháng 2 đã kết thúc với tổng giá trị thực hiện ước tính khoảng 5,5 tỷ USD, thấp hơn so với lượng đăng ký do có một số hợp đồng bị hủy ngang.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tuần qua giảm 6 - 11 điểm cơ bản, kết tuần ở 0,75% cho kỳ hạn qua đêm và 0,90% cho kỳ hạn 1 tuần. Như vậy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã giảm khoảng 15 điểm cơ bản trong tháng 8, trong bối cảnh thanh khoản hệ thống dồi dào nhờ nguồn cung VND từ hợp đồng bán ngoại tệ.

lãi suất huy động

Sau đợt giảm lãi suất vào giữa tháng 7, nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục triển khai các gói hỗ trợ nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh từ nay đến cuối năm. Các gói hỗ trợ bao gồm gói cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc tiếp tục cắt giảm lãi suất cho vay tập trung vào nhóm khách hàng cá nhân, doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phía Nam đang thực hiện giãn cách xã hội.

Bên cạnh VCB và BIDV đã thông báo cắt giảm lãi suất cho vay vào tuần kế trước, VietinBank triển khai thêm gói tín dụng lãi suất từ 4%/năm với quy mô 20.000 tỷ đồng, cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh. Các ngân hàng thương mại tư nhân cũng tham gia giảm mạnh lãi suất để hỗ trợ khách hàng như MBB, ACB, Sacombank,... với mức giảm từ 0,5 – 1,5 điểm phần trăm.

Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng đã tăng nhẹ khoảng 10 – 25 điểm cơ bản trong tuần qua, ghi nhận ở một số ngân hàng như BIDV, VIB, VPB.

Nhìn chung, “chúng tôi kỳ vọng mặt bằng lãi suất cho vay sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp trong thời gian tới, trong khi đó lãi suất huy động sẽ phải chịu áp lực tăng nhẹ bởi thông tư quy định tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sẽ có hiệu lực vào tháng 10 tới đây” – chuyên gia SSI Research cho hay.

Tỷ giá USD/VND tiếp tục giảm

Thông tin từ SSI Research cho biết, Hội nghị chuyên đề thường niên của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vào ngày 27/8 đã đem đến tín hiệu tích cực cho thị trường. Theo đó, mặc dù nhiều quan chức FED đánh giá cao khả năng thu hẹp quy mô chương trình mua trái phiếu hàng tháng trước cuối năm nay, ngôn ngữ và giọng điệu của chủ tịch FED vẫn tương đối ôn hòa. “Điều này giúp các chỉ số chính của chứng khoán Mỹ đạt mức cao kỷ lục trong khi đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đi xuống” – SSI Research cho hay.

Theo đó, giá vàng thế giới cũng ngay lập tức tăng mạnh và kết tuần tăng tới 2,1% so với tuần trước. Chỉ số Dollar-Index (DXY) giảm 0,9% và hầu hết các đồng tiền đều tăng giá mạnh so với USD như CAD (+1,6%), GBP (+1,0%), EUR (+0,8%), CNY (+0,5%),... Đối với các đồng tiền trong khu vực, trong tuần qua đồng Bạt Thái đã có mức tăng tương đối mạnh (+2,2%) sau khi Chính phủ Thái Lan quyết định chọn sống chung với dịch và từng bước khôi phục lại hoạt động sản xuất.

Tại Việt Nam, xu hướng giảm giá của USD/VND trên cả 2 thị trường tiếp tục duy trì. Cụ thể, tỷ giá USD/VND niêm yết của các ngân hàng thương mại giảm 35 đồng/USD ở cả 2 chiều, xuống mức 22.650/22.880 đồng (mua vào/bán ra). Tỷ giá tự do giảm 10 đồng/USD ở chiều mua vào và 30 đồng/USD chiều bán ra giao dịch ở 23.040/23.140 đồng.

ty gia

Theo số liệu từ SSI Research, tính đến thời điểm hiện tại, VND đã tăng giá tới 1,4% so với cuối năm 2020 và là một trong những đồng tiền có diễn biến tốt nhất trong khu vực. Cán cân hàng hóa nhập siêu đã được hỗ trợ bởi dòng vốn FDI giải ngân và kiều hối, giúp tỷ giá duy trì mức thấp như hiện nay. Tuy nhiên, áp lực lên cán cân thanh toán tổng thể đã tăng dần khi số liệu về cán cân thương mại hàng hóa và giải ngân FDI trong tháng 8 không mấy tích cực.

Cụ thể theo ước tính từ Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 8 tiếp tục nhập siêu 1,3 tỷ USD, trong khi đó, giải ngân FDI cũng giảm tới 12% so với cùng kỳ, chỉ đạt 1,1 tỷ USD trong tháng 8.

“Diễn biến của VND trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát của dịch bệnh tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Bình Dương và Đồng Nai (tín hiệu quan trọng để có thể thu hút dòng vốn FDI giải ngân mới)” – chuyên gia của SSI Research bình luận./.

Thái Duy

Thái Duy

Đọc thêm

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Hà Nội - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đà Nẵng - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Miền Tây - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Tây Nguyên - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Nghệ An 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Thái Bình 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 ▼17K 14,492 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 ▼17K 14,493 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 ▼17K 1,444 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 ▼17K 1,445 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▼17K 1,434 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼123165K 14,198 ▼129465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▼1275K 107,711 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▼1156K 97,672 ▼1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲69946K 87,633 ▲78766K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▼991K 83,761 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▼709K 59,954 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cập nhật: 22/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17922 18196 18771
CAD 17986 18261 18877
CHF 30996 31374 32019
CNY 0 3839 3935
EUR 29119 29339 30416
GBP 33897 34287 35218
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14569 15154
SGD 19829 20111 20677
THB 697 760 813
USD (1,2) 25753 0 0
USD (5,10,20) 25792 0 0
USD (50,100) 25820 25834 26199
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26190
AUD 18163 18263 19188
CAD 18192 18292 19306
CHF 31264 31294 32876
CNY 3823.5 3848.5 3984
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29368 29398 31123
GBP 34283 34333 36091
HKD 0 3305 0
JPY 161.51 162.01 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14723 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20007 20137 20859
THB 0 726.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,723 25,843 26,210
USD20 25,693 25,843 26,210
USD1 25,673 25,843 26,210
AUD 18,211 18,311 19,418
EUR 29,166 29,266 30,925
CAD 18,140 18,240 19,547
SGD 20,088 20,238 20,792
JPY 162.03 163.53 169.08
GBP 34,182 34,332 35,394
XAU 14,308,000 0 14,612,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30