Thị trường tiền tệ tuần 10.4 – 14.4:

Lãi suất liên ngân hàng biến động ngược, tỷ giá ổn định

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến đáng chú ý trong tuần qua là động thái tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng, đây là diễn biến ngược so với xu hướng giảm lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại. Trong khi đó, tỷ giá vẫn giữ nhịp ổn định.
aa

Lãi suất liên ngân hàng biến động ngược

Thị trường tiền tệ tuần qua chứng kiến động thái tăng khá mạnh của lãi suất thị trường liên ngân hàng. Theo đó, lãi suất cho vay qua đêm đã vọt tăng lên tới 5,32%, đồng thời kỳ hạn 1 tuần cũng leo lên mức 5,35%, kỳ hạn 2 tuần là 5,07%, kỳ hạn 1 tháng là 5,35%...

Diễn biến của lãi suất liên ngân hàng khá trái ngược so với xu hướng giảm lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại sau khi NHNN thực hiện các quyết định giảm lãi suất điều hành từ đầu tháng 4.

Lãi suất liên ngân hàng biến động ngược, tỷ giá ổn định
Lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh, nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và thấp hơn khá nhiều so với mặt bằng thời điểm đầu tháng 3/2023. Ảnh: T.L
Lãi suất liên ngân hàng “xuyên thủng” mốc 1%, tín dụng tăng chậm

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sau khi ban hành một số quyết định giảm lãi suất điều hành (có hiệu lực từ ngày 3/4) thì nhiều ngân hàng thương mại đã thực hiện việc giảm lãi suất huy động. Đây có thể coi là động thái của các ngân hàng trong việc hưởng ứng chủ trương của Chính phủ và NHNN trong việc cố gắng đưa mặt bằng lãi suất xuống thấp trong thời gian tới.

NHNN không giảm trần lãi suất liên ngân hàng

Trong các quyết định giảm điều chỉnh lãi suất điều hành gần đây nhất, nhiều mức lãi suất được NHNN điều chỉnh giảm, nhưng trần lãi suất liên ngân hàng không giảm. Cụ thể, tại Quyết định số 574/QĐ-NHNN ngày 31/3/2023, lãi suất tái cấp vốn giảm từ mức 6%/năm xuống 5,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu giữ nguyên ở mức 3,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng vẫn giữ nguyên ở mức 6,0%/năm.

Động thái tăng của lãi suất liên ngân hàng một phần có thể lý giải từ nguyên nhân có một số ngân hàng thương mại bắt đầu gia tăng nhu cầu giải ngân cho vay khách hàng sau giai đoạn tín dụng tăng chậm đầu năm. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng hiện vẫn còn thấp hơn khá nhiều so với giai đoạn đầu tháng 3 - thời điểm có lúc lãi suất cho vay qua đêm lên tới 6,38% nên diễn biến hiện nay vẫn cho thấy khả năng thanh khoản của các ngân hàng vẫn trong kiểm soát.

Trong các văn bản điều hành gần đây, NHNN cũng không có chủ trương giảm lãi suất liên ngân hàng, theo đó trong lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành gần đây nhất, NHNN không giảm trần lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng.

Tỷ giá vẫn giữ nhịp ổn định

Tỷ giá trong tuần qua vẫn diễn biến khá ổn định. Tỷ giá trung tâm trong những ngày đầu tuần có xu hướng tăng trở lại, nhưng quay đầu giảm vào 2 ngày cuối tuần, đặc biệt giảm khá mạnh trong ngày thứ sáu cuối tuần.

Mở đầu tuần, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức 23.600 đồng/USD và sau đó tăng dần lên mức 23.608 đồng/USD vào ngày 12/4. Trong ngày 13/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng mỗi Đô la và tiếp đó giảm tới 8 đồng mỗi Đô la về mức 23.588 đồng/USD và hôm thứ sáu. Diễn biến chung trong cả tuần cho thấy tỷ giá trung tâm vào ngày thứ sáu thấp hơn 2 đồng mỗi Đô la so với hôm thứ hai đầu tuần.

Lãi suất liên ngân hàng biến động ngược, tỷ giá ổn định
Dự trữ ngoại hối khá dồi dào là công cụ để NHNN có thể can thiệp thị trường nếu có biến động. Ảnh: T.L

Tại Vietcombank, tỷ giá USD do ngân hàng này niêm yết cũng không có biến động lớn trong tuần. Mở đầu tuần, tỷ giá tại ngân hàng này ghi nhận mức 23.250/23.280/23.620 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra), sau đó tăng nhẹ trong những ngày giữa tuần trước khi quay đầu giảm vào hôm thứ sáu cuối tuần. Chốt tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank ghi nhận ở mức 23.245/23.275/23.615 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra), chỉ thấp hơn khoảng 5 đồng mỗi Đô la so với hôm thứ hai đầu tuần.

Dự kiến diễn biến tỷ giá trong thời gian tới sẽ vẫn giữ nhịp ổn định do nguồn cung ngoại tệ vẫn trong trạng thái khá dồi dào nhờ xuất siêu, đồng thời NHNN hiện đang có nguồn dự trữ ngoại hối để sẵn sàng can thiệp nếu có biến động.

Giá vàng tăng vào cuối tuần

Sức cầu vàng trong nước khá yếu trong những ngày đầu tuần khiến cho giá vàng giảm trong nửa đầu tuần, nhưng cuối tuần diễn biến đã có một số thay đổi giúp giá vàng bước vào xu hướng tăng.

Hôm thứ hai đầu tuần, giá vàng miếng 9999 SJC tại Hà Nội giảm khoảng 100 đồng/lượng so với cuối tuần trước, ghi nhận mức 66,3 triệu đồng/lượng mua vào và 66,92 triệu đồng/lượng bán ra. Giá vàng vẫn tiếp tục có phiên giảm vào hôm thứ ba và đứng giá trong hai ngày tiếp sau đó, trước khi đảo chiều tăng vào thứ sáu cuối tuần, ghi nhận mặt bằng giá sáng hôm 14/4 ở mức 66,6 triệu đồng/lượng mua vào và 67,22 triệu đồng/lượng bán ra.

Dự báo giá vàng quốc tế cho thấy giá vàng có thể sẽ vẫn có được sức cầu tốt do thị trường tài chính vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn những yếu tố rủi ro sau cuộc khủng hoảng ngân hàng diễn ra tại Mỹ từ tháng 3/2023. Do đó, các nhà đầu tư vẫn có xu hướng tạm thời trú ẩn vào vàng để quan sát các diễn biến tiếp theo.

Sẽ có những hoạt động hợp tác sâu hơn giữa NHNN và IMF

Trong tuần qua, NHNN đã làm việc với Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF), trong đó, lãnh đạo NHNN đã có đề nghị IMF phối hợp chặt chẽ hơn nữa để triển khai có hiệu quả các hỗ trợ kỹ thuật đang diễn ra và nghiên cứu triển khai các dự án nâng cao năng lực mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cho các cơ quan chức năng của Việt Nam, trong đó có NHNN.

Bên cạnh các hình thức truyền thống như khóa học, IMF cũng thống nhất việc sẽ mở rộng, đổi mới các hình thức hợp tác như các chương trình thực tập, biệt phái tại Quỹ hoặc đào tạo giảng viên kiêm nhiệm nhằm chia sẻ kiến thức, trao đổi kinh nghiệm với các nước.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Sáng ngày 18/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.067 VND, giảm 1 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,15%, hiện ở mức 99,57 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80