Thị trường tiền tệ tuần 27/3 - 31/3:

Lãi suất liên ngân hàng “xuyên thủng” mốc 1%, tín dụng tăng chậm

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng sau giai đoạn đi xuống tiếp tục giảm thấp tới mức “không tưởng”, đã xuyên thủng mốc 1% trong tuần vừa qua. Trong khi đó, diễn biến tín dụng tăng chậm cũng là thông tin đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua.
aa

Lãi suất liên ngân hàng về dưới 1%

Lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng tiếp tục đà giảm rất sâu, với mức lãi suất cho vay qua đêm thậm chí đã giảm xuống mức chỉ còn 0,96%, đây là mức giảm rất sâu so với mức lãi suất qua đêm đã từng lên tới 6,4% chỉ mới hồi đầu tháng 3.

Đồng thời, các mức lãi suất suất các kỳ hạn khác cũng giảm sâu với kỳ hạn 1 tuần chỉ còn 1,66%, kỳ hạn 2 tuần là 2,45%, kỳ hạn 1 tháng 4,22%...

Với mặt bằng lãi suất hiện tại, lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đang ở mức thấp hơn rất nhiều so với lãi suất suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định.

Lãi suất liên ngân hàng “xuyên thủng” mốc 1%, tín dụng tăng chậm
NHNN đang thực hiện giải pháp khơi thông tín dụng với nền kinh tế. Ảnh: T.L
Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu và tín hiệu tích cực kép Lãi suất tăng đang phơi bày những điểm yếu gì của hệ thống ngân hàng?

Hiện nay, lãi suất cho vay qua đêm tối đa trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng được thực hiện theo Quyết định số 313/QĐ-NHNN ngày 14/3/2023, cụ thể ở mức 6%/năm. Mức lãi suất tối đa này cũng đã giảm thấp hơn so với mức 7% trong thời gian trước.

Quyết định số 313 cũng có một số nội dung quy định về các mức lãi suất điều hành khác. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn giữ nguyên ở mức 6%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,5%/năm xuống 3,5%/năm.

Tỷ giá vẫn giữ nhịp ổn định

Tỷ giá trung tâm trong tuần vừa qua có động thái tăng nhẹ đầu tuần, nhưng sau đó đi vào ổn định và giảm vào cuối tuần.

Cụ thể, tỷ giá trung tâm hôm 27/3 tăng 2 đồng so với cuối tuần trước và ghi nhận ở mức 23.602 đồng/USD, sau đó tiếp tục có phiên tăng điểm hôm thứ ba ngày 28/3 lên 23.605 đồng/USD. Tuy nhiên, tỷ giá trung tâm đã được điều chỉnh quay đầu giảm vào phiên 29/3, giữ ổn định trong phiên 30/3 trước khi tiếp tục giảm nhẹ vào cuối tuần. Chốt phiên thứ sáu ngày 31/3, tỷ giá USD trung tâm dừng ở mức 23.600 đồng/USD, giảm 2 đồng so với phiên hôm thứ hai đầu tuần và đúng bằng tỷ giá trung tâm hôm thứ sáu tuần trước.

Cán cân thương mại thặng dư tiếp tục hỗ trợ cho tỷ giá ổn định

Trong tháng 3/2023, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 0,65 tỷ USD. Tính chung quý I năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 4,07 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,9 tỷ USD).

Tại Vietcombank, tỷ giá USD diễn biến theo chiều hướng giảm trong tuần, nhưng mức giảm không nhiều. Tỷ giá niêm yết tại ngân hàng này hôm thứ hai đầu tuần là 23.310/23.340/23.680 (mua chuyển khoản/mua tiền mặt/bán ra), sau đó giảm nhẹ khoảng 10 – 20 đồng mỗi Đô la trong 3 ngày tiếp theo và giữ ổn định trong ngày cuối cùng trong tuần, ghi nhận vào sáng thứ sáu ở mức 23.700/23.300/23.640 đồng/USD.

Trong tuần qua, Tổng cục Thống kê đã công bố tình hình thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu trong tháng 3 và quý I/2023, diễn biến này tiếp tục là yếu tố hỗ trợ tốt cho việc ổn định tỷ giá thời gian tới.

Lãi suất liên ngân hàng “xuyên thủng” mốc 1%, tín dụng tăng chậm
Thặng dư thương mại vẫn là tín hiệu tích cực cho tỷ giá. Ảnh: T.L

Tín dụng tăng chậm

Theo số liệu của NHNN công bố hôm cuối tuần, tăng trưởng tín dụng đạt 2,06% (tính đến 28/3). Trước đó, Tổng cục Thống kê công bố tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 1,61% tính đến cuối quý I/2023 (cập nhật đến 20/3). Theo đó với tốc độ tăng trưởng này, tăng trưởng tín dụng mới đạt khá thấp so với chỉ tiêu cả năm 2023 sau 1 quý đầu năm. Tốc độ tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế trong quý I/2022 theo đó chỉ cao hơn so với mức 1,26% của năm 2021 (là năm diễn ra dịch Covid-19) và thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng 5,04% của năm 2022.

Tuy nhiên, NHNN cũng vừa cho biết sẽ vẫn tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2023 như đã đề ra hồi đầu năm (khoảng 14-15%). Về tình hình chung hiện nay, tín dụng chậm vào quý I cũng là thông lệ, do rơi vào giai đoạn Tết, tuy nhiên, đây cũng là yếu tố cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang chậm lại.

NHNN cho biết đã chỉ đạo toàn ngành tiếp tục đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp tại các địa phương. NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng chủ động làm việc trực tiếp với khách hàng nhằm tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Giá vàng giảm nhưng có thể tăng trở lại

Diễn biến giá vàng trong tuần theo chiều hướng giảm, giá vàng miếng SJC tại Hà Nội mở đầu tuần ở mức 66,65 triệu đồng/lượng mua vào và 67,37 triệu đồng/lượng bán ra. Sau đó, giá vàng có diễn biến giảm trong một số ngày trong tuần, trước khi quay đầu tăng trở lại trong ngày cuối tuần. Sáng hôm thứ sáu cuối tuần, giá vàng miếng SJC ghi nhận ở mức 66,45 triệu đồng/lượng mua vào và 67,07 triệu đồng/lượng bán ra, giảm khoảng 200 nghìn đồng/lượng so với hôm đầu tuần.

Mặc dù giá vàng giảm, nhưng nhiều dự báo cho thấy kim loại quý này có thể sẽ tăng trở lại do tình hình thị trường tài chính quốc tế chưa thực sự ổn định trở lại khiến dòng tiền có thể sẽ tìm đến vàng.

Thúc đẩy triển khai gói hỗ trợ lãi suất

Trong tuần qua, NHNN cũng vừa có văn bản yêu cầu NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố, các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện gói hỗ trợ 2% lãi suất. Theo đó, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục xác định việc triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP là nhiệm vụ trọng tâm, cần khẩn trương, quyết liệt thực hiện với tinh thần, trách nhiệm cao nhất. Các tổ chức tín dụng chủ động tiếp cận, đồng hành, hướng dẫn khách hàng, nhất là các khách hàng thuộc đối tượng và đang có dư nợ thuộc ngành, lĩnh vực được hỗ trợ lãi suất để khách hàng hoàn thiện hồ sơ, thủ tục được hỗ trợ lãi suất theo quy định.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

(TBTCO) - Sáng 28/9, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, xuống 25.632 đồng/USD, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do diễn biến phân hóa. DXY mở đầu tuần nhích 0,09%, lên 101,13 điểm. Tuần này, thị trường tập trung vào dữ liệu lao động, sản xuất của Mỹ và phát biểu của quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), giữa kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào cuối tháng 10.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (26/9): USD trong nước trái chiều, DXY lên đỉnh hai tháng giữa tín hiệu thắt chặt từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (26/9): USD trong nước trái chiều, DXY lên đỉnh hai tháng giữa tín hiệu thắt chặt từ Fed

(TBTCO) - Chốt tuần, tỷ giá trung tâm tăng 4 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.641 đồng/USD, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do diễn biến trái chiều. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,8%, lên 101,035 điểm và chạm đỉnh hai tháng, được hỗ trợ bởi lập trường thắt chặt của Fed và lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao.
Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

(TBTCO) - Sáng 25/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng, lên 25.641 đồng, trong khi USD trên thị trường tự do và ngân hàng diễn biến phân hóa. Chỉ số DXY nhích 0,13% lên 101,25 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất gia tăng, trong bối cảnh quan chức Fed phát tín hiệu cứng rắn và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh.
Tỷ giá USD hôm nay (24/9): DXY tăng mạnh vượt 101 điểm, thị trường tăng cược Fed nâng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (24/9): DXY tăng mạnh vượt 101 điểm, thị trường tăng cược Fed nâng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 24/9, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.635 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng giảm nhẹ. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng mạnh 0,55% lên 101,11 điểm khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách. Thị trường hiện định giá 69,7% khả năng Fed tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm vào tháng 10 và chờ thêm dữ liệu kinh tế Mỹ.
Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 21/9, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,23 điểm, duy trì vùng cao nhất khoảng 7 tuần. Tuần này, thị trường tập trung vào loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Trung và các cuộc họp chính sách của nhiều ngân hàng trung ương lớn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,170
USD20 25,667 25,817 26,170
USD1 25,647 25,817 26,170
AUD 17,730 17,830 18,937
EUR 28,611 28,711 30,370
CAD 17,874 17,974 19,280
SGD 19,879 19,879 20,719
JPY 161.69 163.19 168.75
GBP 33,742 33,892 35,260
XAU 14,108,000 0 14,412,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/10/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30