Techcombank công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2024:

Lợi nhuận trước thuế đạt 15,6 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2024, với kết quả ấn tượng ở những hạng mục kinh doanh cốt lõi, với tổng thu nhập hoạt động và lợi nhuận trước thuế tiếp tục tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm. Kết quả kinh doanh ấn tượng đã đưa Techcombank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam nhận hat-trick giải thưởng danh giá “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” từ 3 tổ chức uy tín hàng đầu thế giới là Euromoney, FinanceAsia và Global Finance.
aa

Tăng trưởng tín dụng lành mạnh

Trong 6 tháng đầu năm 2024, thu nhập lãi thuần (NII) tăng lên 18,0 nghìn tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng 40,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng quý II NII đạt 9,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với quý trước (tương đương mức tăng 50,6% so với quý II năm 2023). Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng lành mạnh và chi phí vốn tiếp tục giảm xuống mức 3,2%. Nhờ vậy, biên lãi thuần (NIM) theo quý cải thiện lên mức 4,6%.

Phí dịch vụ ngân hàng đầu tư đạt 1.792 tỷ đồng, tăng 199,0% so với cùng kỳ năm. Trong quý II, Techcombank ghi nhận phí dịch vụ ngân hàng đầu tư đạt kỷ lục 1.000 tỷ đồng, cao hơn mức thu nhập của giai đoạn 2021 - 6 tháng đầu năm 2022, trước khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp gặp nhiều thách thức.

Thu phí từ dịch vụ thẻ đạt 1.022 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Thu từ phí dịch vụ bảo hiểm đạt 384,5 tỷ đồng, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm trước, đưa Techcombank lên vị trí Top2 về phí bảo hiểm quy năm (APE) trong quý II/2024, và vị trí Top3 trong 6 tháng đầu năm 2024.

Ngân hàng cũng ghi nhận 1.420 tỷ đồng thu nhập từ các hoạt động khác, với mức tăng trưởng cao 33,8% N/N, chủ yếu đến từ lãi từ hoạt động kinh doanh trái phiếu. Thu nhập tăng trưởng tích cực tạo tiền đề để ngân hàng duy trì tỷ lệ chi phí/ thu nhập ở mức 28,0% trong nửa đầu 2024, giảm mạnh so với mức 32,3% cùng kỳ năm trước.

Chi phí dự phòng ghi nhận ở mức 2.855 tỷ đồng, tăng 112,8% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ ở mức lành mạnh 101% tại cuối quý II/2024. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát dưới mức 1,3%, và tỷ lệ an toàn vốn tăng lên mức 14,5%.

Vị thế vốn của ngân hàng vẫn được duy trì mạnh mẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) là 79,6% tại 30/6/2024, tuân thủ mức trần 80% theo quy định của NHNN. Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức 24,2%, thấp hơn mức 25,1% tại ngày 31/3/2024. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II của ngân hàng lên mức 14,5% tại 30/6/2024, sau khi ngân hàng đã hoàn tất chi trả cổ tức bằng tiền mặt, với tổng giá trị lên tới 5 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ an toàn vốn tiếp tục nằm trong ngưỡng mục tiêu 14-15%, đồng thời thể hiện khả năng sinh lời vượt trội trên vốn tự có của ngân hàng.

Tổng dư nợ cần chú ý (SM) và nợ xấu (NPL) giảm nhẹ xuống 12,1 nghìn tỷ đồng, từ mức 12,4 nghìn tỷ đồng tại cuối quý ​​​​​​I, nhờ tốc độ hình thành nợ cần chú ý giảm và thành công trong thu hồi nợ. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) được kiểm soát ở mức dưới 1,3%, trong đó tỷ lệ NPL của riêng ngân hàng chỉ ở mức 1,08%.

Lợi nhuận trước thuế đạt 15,6 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái
Techcombank - Hội sở 6 Quang Trung.

Tỷ lệ CASA đạt 37,4%, số dư CASA tiếp tục ở mức cao kỷ lục của ngân hàng

Tại cuối quý II/2024, tổng tài sản của Techcombank tăng 6,9% so với đầu năm, và 24 % so với cùng kỳ năm trước, lên mức 908,3 nghìn tỷ đồng. Tính riêng ngân hàng, tín dụng tăng trưởng 11,6% so với đầu năm lên ngưỡng 591,6 nghìn tỷ, phù hợp với hạn mức tín dụng được cấp bởi Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Trên cơ sở hợp nhất, nhu cầu tín dụng trong nửa đầu 2024 đồng đều ở cả nhóm khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, trong đó tín dụng khách hàng cá nhân ghi nhận mức tăng trưởng tích cực hơn trong quý II. Cụ thể, dư nợ tín dụng khách hàng doanh nghiệp tăng 4,3% so với cùng kỳ quý trong quý II, thấp hơn mức tăng 7,0% của dư nợ khách hàng cá nhân.

Dư nợ cho vay mua nhà phục hồi lên mức 181,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3% so với đầu năm và 9,1% so với cùng kì. Giải ngân cho vay mua nhà tiếp tục đà tăng trưởng tốt, đạt 31,2 nghìn tỷ trong quý II/2024, quay trở lại mức trung bình/quý trước khi thị trường bất động sản gặp khó khăn trong giai đoạn nửa sau năm 2022 - quý III/2023.

Tiền gửi của khách hàng đạt 481,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6 % so với đầu năm và 26,2% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ CASA đạt 37,4%, trong lúc số dư CASA vẫn giữ ở mức cao nhất trong lịch sử, ở mức hơn 180 nghìn tỷ đồng. Tổng số dư tại các tài khoản “Sinh lời tự động” đạt khoảng hơn 14 nghìn tỷ đồng, tính đến ngày 30/6/2024.

Techcombank kết thúc nửa đầu năm 2024 với khoảng 14,4 triệu khách hàng, bổ sung thêm khoảng gần 1 triệu khách hàng mới trong kỳ. Có đến 55% khách hàng cá nhân gia nhập thông qua nền tảng số và 44% từ kênh chi nhánh, đặc biệt nhờ chương trình mở rộng nhóm khách hàng nhà bán lẻ (merchant).

Số lượng giao dịch của khách hàng cá nhân qua các kênh ngân hàng điện tử đạt 780,8 triệu giao dịch trong quý 2 năm 2024, tăng 14,6% so với cùng quý và 56,3% so với cùng năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm, tổng số lượng giao dịch đạt 1,5 tỷ giao dịch, tăng 57,4% so với cùng năm. Tổng giá trị giao dịch qua kênh ngân hàng điện tử trong quý 2 đạt 2,9 triệu tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đầu năm đạt hơn 5,5 triệu tỷ đồng, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước.

Sau 12 tháng triển khai các đề xuất giá trị được cá nhân hóa cho các nhà bán lẻ, Techcombank đã ghi nhận phản hồi đặc biệt tích cực từ hơn 600.000 nhà bán lẻ trên toàn quốc, đặc biệt với nhiều kết quả cao trong nửa đầu 2024. Số dư CASA/khách hàng cải thiện ~20% (so với trước khi triển khai giải pháp). Số lượng giao dịch thông qua QR của khách hàng là nhà bán lẻ đạt trung bình 17,5 triệu/ tháng, cao hơn 80% so với đầu năm.

Hat-trick giải thưởng “Ngân hàng xuất sắc nhất” từ Euromoney, FinanceAsia và Global Finance

Theo Tổng Giám đốc Jens Lottner, chiến lược vượt trội của Techcombank đã được các tổ chức quốc tế uy tín hàng đầu ghi nhận, đánh dấu Techcombank trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên được cả ba tổ chức danh giá Euromoney, FinanceAsia và Global Finance vinh danh là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam”, và đặc biệt trong cùng một năm 2024.

Techcombank được Euromoney vinh danh là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” lần thứ 5 kể từ năm 2010. Với giải thưởng này, được trao vào quý 2 năm 2024, Techcombank đã trở thành ngân hàng Việt Nam duy nhất vinh dự nhận cú hat-trick với 3 giải thưởng từ các tổ chức uy tín hàng đầu trên thế giới là Euromoney, Global Finance và FinanceAsia.

Sự kiện này ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực, khả năng sinh lời, cũng như khẳng định chất lượng tài sản, mô hình quản trị rủi ro vượt trội và sức mạnh của bảng cân đối kế toán.

Giải thưởng trên cũng khẳng định chiến lược “Khách hàng là trọng tâm” và vai trò dẫn dắt hành trình chuyển đổi số, kiến tạo các giải pháp dựa trên nền tảng số hóa cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và định chế. Chất lượng của các dịch vụ quản lý thanh khoản, ngân quỹ và ngoại hối dành cho khách hàng doanh nghiệp là tiền đề giúp ngân hàng đồng thời được Euromoney vinh doanh với giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất dành cho doanh nghiệp”.

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) hiện là một trong những ngân hàng cổ phần lớn nhất Việt Nam và là ngân hàng hàng đầu châu Á với tầm nhìn: Chuyển đổi ngành tài chính, nâng tầm giá trị sống. Techcombank theo đuổi chiến lược lấy khách hàng làm trọng tâm bằng việc cung cấp các giải pháp và dịch vụ ngân hàng bán lẻ và doanh nghiệp để giúp trao quyền tài chính cho khách hàng của mình.

Techcombank hiện phục vụ 13,8 triệu khách hàng cá nhân và doanh nghiệp thông qua nền tảng ngân hàng số và ứng dụng ngân hàng trên điện thoại di dộng, cũng như mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch trải rộng khắp trên cả nước. Cách tiếp cận hệ sinh thái của Techcombank, được thực hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế chính với các đối tác, tiếp tục tạo sự khác biệt cho Techcombank ở một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới. Techcombank được FiinRatings và Moody’s xếp hạng tín nhiệm lần lượt ở mức A+ và Ba3. Techcombank cũng được S&P xếp hạng BB-, mức cao nhất trong số các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

Thanh Thủy

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80