LPBank kiến nghị gì tại Hội nghị Thường trực Chính phủ ?

(TBTCO) - Bám sát và thực thi tích cực các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) ghi nhận tăng trưởng tín dụng tới thời điểm hiện tại đạt 43,998 tỷ đồng tương đương tỷ lệ tăng trưởng tín dụng toàn hàng là 15.97%. Tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ thấp, chỉ 1.7%, nằm trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống.
aa

Tăng trưởng mạnh mẽ nhờ chiến lược phát triển toàn diện

Đây là thông tin do ông Hồ Nam Tiến, Tổng Giám đốc Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) chia sẻ tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với các ngân hàng thương mại cổ phần về các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước chiều ngày 21/9.

LPBank kiến nghị gì tại Hội nghị Thường trực Chính phủ ?

Ông Hồ Nam Tiến - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phát biểu tại Hội nghị.

Để đạt được kết quả trên, trong năm 2024, LPBank đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ và quyết liệt thực hiện. Ngân hàng đã đẩy mạnh phát triển tín dụng bán lẻ ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thông qua mạng lưới 566 chi nhánh/ phòng giao dịch trên 63 tỉnh thành. Bên cạnh đó, LPBank cũng đẩy nhanh chuyển đổi số toàn diện, hỗ trợ đắc lực cho công tác phê duyệt tín dụng, giúp rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Nhờ áp dụng công tác quản trị tín dụng và rủi ro chặt chẽ theo mô hình quản trị hiện đại, an toàn, hiệu quả đã giúp LPBank kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, không để phát sinh nợ xấu mới. Hiện tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng này chỉ 1,7%, thuộc nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống. “Mục tiêu của LPBank là đưa tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 1,0% vào cuối năm nay”, ông Hồ Nam Tiến, Tổng Giám đốc LPBank chia sẻ tại Hội nghị.

Trong năm 2024, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam cũng liên tục đưa ra nhiều gói giải pháp tối ưu hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về triển khai chương trình tín dụng 120 nghìn tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, cho vay tiêu dùng, LPBank đã triển khai nhiều gói tín dụng với lãi suất ưu đãi. Trong 8 tháng đầu năm 2024, LPBank đã giảm lãi suất cho hơn 150.000 khách hàng, với mức giảm lên đến 3,5% so với đầu năm, tương đương tổng dư nợ được giảm lãi suất hơn 100.000 tỷ đồng.

LPBank kiến nghị gì tại Hội nghị Thường trực Chính phủ ?

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) Nguyễn Đức Thụy trao đổi cởi mở bên lề Hội nghị Thường trực Chính phủ

Bên cạnh đó, còn có các chương trình cho vay ưu đãi lãi suất cố định đối với khách hàng doanh nghiệp vay vốn sản xuất kinh doanh ngắn hạn, khách hàng xuất nhập khẩu với quy mô 9.000 tỷ đồng,... với mức lãi suất cho vay ưu đãi chỉ từ 6,5%/năm. Kết quả hiện tại đã có gần 900 khách hàng được hưởng lợi từ Chương trình này. Có thể nói, các chương trình ưu đãi trên hỗ trợ rất nhiều cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, thực sự đã và đang lan toả mạnh mẽ trên toàn quốc, góp phần khôi phục sản xuất kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương trên toàn quốc.

Ngân hàng xanh phát triển bền vững

Bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển, lãnh đạo Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam nêu một số đề xuất.

Thứ nhất, LPBank kiến nghị Chính phủ, NHNN và các Bộ ban ngành ban hành các văn bản, hướng dẫn cụ thể về Tín chỉ Carbon và các lợi ích cụ thể đối với khách hàng khi tham gia Tín dụng xanh.

Hiện LPBank là ngân hàng tiên phong đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng xanh trong hệ thống. Ngân hàng đã triển khai gói tín dụng dành riêng cho lĩnh vực này với hạn mức hơn 15.600 tỷ đồng nhằm hỗ trợ và khuyến khích khách hàng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho cộng đồng và xã hội. Trong đó 9.600 tỷ đồng dành cho dự án Năng lượng xanh và 6.000 tỷ đồng cho các dự án Nông nghiệp xanh.

LPBank kiến nghị gì tại Hội nghị Thường trực Chính phủ ?

Đại diện các ngân hàng thương mại cổ phần chụp ảnh cùng Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị

Với mạng lưới rộng khắp 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tăng trưởng dư nợ tín dụng xanh của LPBank tính đến cuối quý III/2023 đạt mức ấn tượng 2.863 tỷ đồng, trong đó nông nghiệp sạch và nông nghiệp công nghệ cao chiếm 2.857 tỷ đồng.

Đại diện LPBank chia sẻ: “Biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tần suất và cường độ của các cơn bão như Yagi. Vậy nên chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy mạnh và ưu tiên tín dụng xanh trong thời gian tới nhằm góp phần giảm phát thải nhà kính, bảo vệ môi trường tự nhiên và tạo điều điện cho sự phát triển bền vững về mặt kinh tế và xã hội cho đất nước”.

Việc LPBank ưu tiên tín dụng xanh nằm trong định hướng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc dịch chuyển dòng vốn cho vay tín dụng xanh, thúc đẩy phát triển bền vững. Đây cũng là khu vực được Đảng và nhà nước định hướng phát triển nhằm trở thành vùng sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng hiệu quả, bền vững, đáp ứng xu hướng hội nhập quốc tế, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, ông Hồ Nam Tiến, Tổng Giám đốc LPBank, cho biết: “Các quy định về chính sách cho vay tín dụng xanh và các lợi ích cho khách hàng trong lĩnh vực xanh còn chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc mở rộng và phát triển đối tượng khách hàng.” Do đó, Việt Nam cần sớm có các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, tạo điều kiện cho họ tham gia thị trường vốn, phát hành trái phiếu xanh, và hưởng các ưu đãi về thuế và bảo hiểm tín dụng xanh.

Thứ hai, đối với các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi bão số 3 vừa qua, LPBank đề xuất thêm các chính sách hỗ trợ như cơ cấu lại thời gian trả nợ, hỗ trợ giảm lãi suất để giúp họ sớm khắc phục hậu quả sau bão, nhanh tróng ổn định cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, cần cân nhắc việc tiếp tục gia hạn Thông tư 02/2023 về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, đồng thời bổ sung thêm đối tượng khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão số 3 vào danh sách được hỗ trợ.

Mới đây, LPBank đã khẩn trương triển khai các chương trình giảm lãi suất vay từ 0,5% đến tối đa 2% cho các khách hàng chịu ảnh hưởng bởi cơn bão số 3. Chương trình có quy mô dự nợ áp dụng giảm lãi suất lên tới 29.700 tỷ đồng cho hơn 63.200 khách hàng ở các khu vực, địa phương chịu thiệt hại bởi bão lũ, đồng thời áp dụng các giải pháp cơ cấu nợ, giãn nợ phù hợp.

"Dù còn nhiều thách thức phía trước, nhưng sự chỉ đạo sát sao và các giải pháp thiết thực từ Chính phủ, các bộ, ngành và NHNN, LPBank tin tưởng kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự tăng trưởng cao và bền vững trong thời gian tới.” - Tổng Giám đốc LPBank khẳng định./.

Tài Tâm

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80