Ngân hàng khó nhọc về đích chỉ tiêu cho vay online

Tú Anh
(TBTCO) - Hiện các ngân hàng Việt vẫn thiếu hệ thống chấm điểm tín dụng độc lập cùng một số phản ánh khi vay online từ khách hàng, khiến ngành ngân hàng khó đạt mục tiêu ít nhất 50% quyết định giải ngân, cho vay nhỏ lẻ, vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân đến năm 2025.
aa
Ngân hàng khó nhọc về đích chỉ tiêu cho vay online
Dù rất tích cực đẩy mạnh cho vay online, các ngân hàng cũng khó về đích theo chỉ tiêu đặt ra. Ảnh tư liệu

Chỉ tiêu cho vay online khó về đích

Ngành Ngân hàng bước đầu hái “trái ngọt” từ những hành trình chuyển đổi số và sắp hoàn thành nhiều mục tiêu đề ra tại Quyết định 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Thống kê của Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước) cho thấy 66% số lượng giao dịch của khách hàng được thực hiện thông qua các kênh số; 49% lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử…

Ngân hàng khó nhọc về đích chỉ tiêu cho vay online

Dưới 20 tổ chức tín dụng cho vay trực tuyến

“Mục tiêu của Quyết định 810/QĐ-NHNN là 50% các khoản vay nhỏ lẻ được thực hiện trên môi trường số đến năm 2025. Đến nay, sơ bộ chưa đến 20 tổ chức tín dụng thực hiện cho vay trên môi trường điện tử”. Ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước)

Tuy nhiên, một mục tiêu còn khá xa tầm đó là ít nhất 50% quyết định giải ngân, cho vay của ngân hàng thương mại, công ty tài chính đối với các khoản vay nhỏ lẻ, vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân được thực hiện theo hướng số hóa, tự động đến năm 2025.

Nhìn lại sau 3 năm thực thi kế hoạch này, ông Phạm Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngành Ngân hàng cố gắng thúc đẩy mạnh mẽ hơn cho vay trên môi trường số.

Không bật mí về tỷ trọng dư nợ tín dụng các khoản cho vay trực tuyến trong tổng dư nợ và tỷ lệ hoàn thành theo Quyết định 810/QĐ-NHNN, lãnh đạo Vụ Thanh toán chỉ nhấn mạnh rằng ngành ngân hàng còn nhiều việc cần làm sắp tới. Trong đó, điều quan trọng là phải nhận diện rõ khách hàng thực hiện giao dịch trên môi trường điện tử, thông qua việc triển khai Đề án 06 và Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNNVN triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06 trong việc phối hợp với Bộ Công an để làm sạch và tạo lập kho dữ liệu sạch ngành Ngân hàng.

Hiện 53 tổ chức tín dụng và 43 trung gian thanh toán đang phối hợp với Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) thuộc Bộ Công an để triển khai việc nhận diện, xác thực thông tin khách hàng thông qua căn cước gắn chip trên thiết bị di động, tài khoản VneID. Đây là một trong những giải pháp cốt lõi để để ngành Ngân hàng xác thực thông tin khách hàng trùng khớp dữ liệu dân cư, đảm bảo an toàn thanh toán và phát triển thêm các tiện ích về sau.

Nhận thức rõ nét về tài nguyên đắt giá từ dữ liệu, theo ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong (TPBank) cho rằng ai nắm trong tay dữ liệu sẽ là người chiến thắng. Do đó, ngân hàng phải khai thác tốt tiềm năng dữ liệu từ khách hàng, những nguồn dữ liệu mở hoặc dữ liệu liên kết với các đối tác. TPBank là một trong những ngân hàng mạnh dạn đặt những bước đi đầu tiên trong việc triển khai cho vay trên kênh số.

“Đến nay, sau khi có các quy định pháp luật, cộng với kinh nghiệm tích lũy được, chúng tôi có lượng khách vay thường xuyên trên kênh số khoảng 30 triệu người với một danh mục chiếm gần 5% tổng dư nợ tín dụng” - ông Hưng bày tỏ.

Khác với cho vay tiêu dùng món nhỏ như trên kênh truyền thống, rất tốn người, tốn chi phí vận hành và rủi ro rất cao, hiện TPBank vận hành hoàn toàn trên kênh số, kể cả ký hợp đồng. Sở dĩ có thể triển khai thành công cho vay trực tuyến, ngân hàng phải phân tích dữ liệu từ rất nhiều nguồn và chấm điểm tín dụng khách hàng. Nhờ đó, khách hàng thích mua một món hàng trên nền tảng thương mại điện tử thì có thể đề nghị vay ngay lúc đó. Về phía ngân hàng có thể đưa ra những quyết định cho vay ngay lập tức vài triệu hay vài chục triệu đồng. Như vậy, cho vay trực tuyến đã chớp lấy cơ hội khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, khác biệt hoàn toàn so với vay truyền thống mất đến vài ngày.

“Các khoản vay này rất an toàn vì gắn với những nhu cầu thực tế, chứ không phải cho khách hàng vay một món tiền mà ngân hàng không biết dùng để làm gì” - lãnh đạo TPBank nhìn nhận.

Thiếu mảnh ghép chấm điểm tín dụng độc lập

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường tài chính - bất động sản Toàn Cầu cho rằng, về mặt kỹ thuật, cho vay online rất đơn giản nếu dữ liệu, thông tin cá nhân của khách hàng đưa lên online, từ đó, ngân hàng có thể xét duyệt khoản vay rất nhanh chóng. Nhìn nhận một số cản trở khi cho vay online, ông Hiếu cho rằng Việt Nam hiện chưa có hệ thống chấm điểm tín dụng phổ thông cho người dân mà chỉ dành cho các khách hàng của ngân hàng.

Trái lại, tại Mỹ phần lớn là vay online, ngân hàng phải mua dịch vụ của những công ty chấm điểm tín dụng để có ngay điểm tín dụng của khách hàng, hệ thống như thế rất minh bạch. Vì vậy, chỉ trong một vài phút là ngân hàng phản hồi cho vay hay không, lãi suất bao nhiêu, tùy theo điểm tín dụng cao hay thấp. Hơn hết, người dân có thể dùng điểm tín dụng để điều chỉnh hành vi tín dụng để trả nợ nhanh hơn, đúng hạn khi điểm tín dụng thấp.

“Ở Việt Nam, các ngân hàng chỉ có hệ thống chấm điểm tín dụng cho khách hàng của họ, còn những người không phải khách hàng thì chưa có. Trong khi các ngân hàng ở bên Mỹ dựa vào hệ thống chấm điểm tín dụng của những công ty chấm điểm tín dụng độc lập và kéo dữ liệu khách hàng từ các công ty này” - ông Hiếu chia sẻ.

Về vướng mắc khi vay trực tuyến, hiện nhiều khách hàng than phiền về việc bỗng dưng dính nợ xấu khi trễ hạn thanh toán các khoản vay online, do ứng dụng không cho khách thanh toán ngay khoản phí trễ hạn mà buộc đến kỳ hạn mới được thanh toán và không có thông báo nhắc nộp. Điều này khiến khách hàng quay lưng và không mặn mà vay những lần sau.

Về lãi suất, nhiều ý kiến cho rằng vay online ở mức cao khi vay trên app gần 2%/tháng hay cho vay trên các sàn thương mại điện tử với lãi suất khoảng 3%/tháng. Theo vị chuyên gia này, lãi suất cho vay tiêu dùng từ 20 - 30%/năm là hợp lý, còn trên 30% là khá cao.

Hơn 11 tấn vàng được Ngân hàng Nhà nước bán trực tiếp ra thị trường

Thông tin về công tác quản lý, điều hành thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết từ năm 2020 đến nay, giá vàng thế giới biến động rất phức tạp, khó lường theo xu hướng tăng là chủ đạo.

Tính đến sáng ngày 8/11/2024, giá vàng thế giới ở mức 2.697 USD/ounce; tăng khoảng 650 USD/ounce, tương đương tăng 32% so với đầu năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu khiến giá vàng quốc tế tăng mạnh trong thời gian gần đây là do căng thẳng địa chính trị, thương mại, xung đột vũ trang tại nhiều quốc gia trên thế giới leo thang khiến nhu cầu tiêu thụ vàng vật chất ở một số nước và dự trữ vàng của nhiều ngân hàng trung ương tăng mạnh.

Trong nước, giá vàng biến động tăng mạnh cùng chiều với giá vàng thế giới. Về phía cung, từ năm 2014 - 2023, NHNN không tăng cung vàng miếng SJC ra thị trường. Tuy nhiên, từ tháng 4/2024 đến nay, trước xu hướng tăng mạnh của giá vàng thế giới, dư luận quan tâm, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt việc giảm chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế. Từ 19/4-23/5/2024, NHNN tổ chức 9 phiên đấu thầu với tổng khối lượng trúng thầu là 48.500 lượng (tương đương khoảng 1,82 tấn). Tuy nhiên, sau 9 phiên can thiệp theo phương thức đấu thầu, chênh lệch giữa giá vàng SJC và giá thế giới vẫn ở mức cao.

Để nhanh chóng kiểm soát và giảm chênh lệch giữa giá vàng trong nước so với giá thế giới, NHNN chuyển sang phương thức bán vàng miếng qua 4 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC. “Từ ngày 3/6 - 29/10, NHNN tổ chức 44 phiên bán vàng miếng SJC trực tiếp, cung ứng ra thị trường 305.600 lượng vàng SJC, tương đương khoảng 11,46 tấn vàng” - NHNN thông tin.

Kể từ khi chính thức thông báo thực hiện phương án bán vàng miếng trực tiếp, chênh lệch giá bán vàng miếng trong nước so với giá thế giới đã giảm, hiện chỉ còn chênh khoảng 3 - 5 triệu đồng/lượng so với giá vàng thế giới (khoảng 5 - 7%), từ mức chênh lệch so với giá thế giới hơn 18 triệu đồng/lượng (25%)./.

Tú Anh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲1544K 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲1544K 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 ▲5K 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 ▲5K 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 ▲5K 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cập nhật: 04/04/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/04/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80