Ngân hàng khó nhọc về đích chỉ tiêu cho vay online

Tú Anh
(TBTCO) - Hiện các ngân hàng Việt vẫn thiếu hệ thống chấm điểm tín dụng độc lập cùng một số phản ánh khi vay online từ khách hàng, khiến ngành ngân hàng khó đạt mục tiêu ít nhất 50% quyết định giải ngân, cho vay nhỏ lẻ, vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân đến năm 2025.
aa
Ngân hàng khó nhọc về đích chỉ tiêu cho vay online
Dù rất tích cực đẩy mạnh cho vay online, các ngân hàng cũng khó về đích theo chỉ tiêu đặt ra. Ảnh tư liệu

Chỉ tiêu cho vay online khó về đích

Ngành Ngân hàng bước đầu hái “trái ngọt” từ những hành trình chuyển đổi số và sắp hoàn thành nhiều mục tiêu đề ra tại Quyết định 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Thống kê của Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước) cho thấy 66% số lượng giao dịch của khách hàng được thực hiện thông qua các kênh số; 49% lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử…

Ngân hàng khó nhọc về đích chỉ tiêu cho vay online

Dưới 20 tổ chức tín dụng cho vay trực tuyến

“Mục tiêu của Quyết định 810/QĐ-NHNN là 50% các khoản vay nhỏ lẻ được thực hiện trên môi trường số đến năm 2025. Đến nay, sơ bộ chưa đến 20 tổ chức tín dụng thực hiện cho vay trên môi trường điện tử”. Ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước)

Tuy nhiên, một mục tiêu còn khá xa tầm đó là ít nhất 50% quyết định giải ngân, cho vay của ngân hàng thương mại, công ty tài chính đối với các khoản vay nhỏ lẻ, vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân được thực hiện theo hướng số hóa, tự động đến năm 2025.

Nhìn lại sau 3 năm thực thi kế hoạch này, ông Phạm Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngành Ngân hàng cố gắng thúc đẩy mạnh mẽ hơn cho vay trên môi trường số.

Không bật mí về tỷ trọng dư nợ tín dụng các khoản cho vay trực tuyến trong tổng dư nợ và tỷ lệ hoàn thành theo Quyết định 810/QĐ-NHNN, lãnh đạo Vụ Thanh toán chỉ nhấn mạnh rằng ngành ngân hàng còn nhiều việc cần làm sắp tới. Trong đó, điều quan trọng là phải nhận diện rõ khách hàng thực hiện giao dịch trên môi trường điện tử, thông qua việc triển khai Đề án 06 và Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNNVN triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06 trong việc phối hợp với Bộ Công an để làm sạch và tạo lập kho dữ liệu sạch ngành Ngân hàng.

Hiện 53 tổ chức tín dụng và 43 trung gian thanh toán đang phối hợp với Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) thuộc Bộ Công an để triển khai việc nhận diện, xác thực thông tin khách hàng thông qua căn cước gắn chip trên thiết bị di động, tài khoản VneID. Đây là một trong những giải pháp cốt lõi để để ngành Ngân hàng xác thực thông tin khách hàng trùng khớp dữ liệu dân cư, đảm bảo an toàn thanh toán và phát triển thêm các tiện ích về sau.

Nhận thức rõ nét về tài nguyên đắt giá từ dữ liệu, theo ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong (TPBank) cho rằng ai nắm trong tay dữ liệu sẽ là người chiến thắng. Do đó, ngân hàng phải khai thác tốt tiềm năng dữ liệu từ khách hàng, những nguồn dữ liệu mở hoặc dữ liệu liên kết với các đối tác. TPBank là một trong những ngân hàng mạnh dạn đặt những bước đi đầu tiên trong việc triển khai cho vay trên kênh số.

“Đến nay, sau khi có các quy định pháp luật, cộng với kinh nghiệm tích lũy được, chúng tôi có lượng khách vay thường xuyên trên kênh số khoảng 30 triệu người với một danh mục chiếm gần 5% tổng dư nợ tín dụng” - ông Hưng bày tỏ.

Khác với cho vay tiêu dùng món nhỏ như trên kênh truyền thống, rất tốn người, tốn chi phí vận hành và rủi ro rất cao, hiện TPBank vận hành hoàn toàn trên kênh số, kể cả ký hợp đồng. Sở dĩ có thể triển khai thành công cho vay trực tuyến, ngân hàng phải phân tích dữ liệu từ rất nhiều nguồn và chấm điểm tín dụng khách hàng. Nhờ đó, khách hàng thích mua một món hàng trên nền tảng thương mại điện tử thì có thể đề nghị vay ngay lúc đó. Về phía ngân hàng có thể đưa ra những quyết định cho vay ngay lập tức vài triệu hay vài chục triệu đồng. Như vậy, cho vay trực tuyến đã chớp lấy cơ hội khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, khác biệt hoàn toàn so với vay truyền thống mất đến vài ngày.

“Các khoản vay này rất an toàn vì gắn với những nhu cầu thực tế, chứ không phải cho khách hàng vay một món tiền mà ngân hàng không biết dùng để làm gì” - lãnh đạo TPBank nhìn nhận.

Thiếu mảnh ghép chấm điểm tín dụng độc lập

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường tài chính - bất động sản Toàn Cầu cho rằng, về mặt kỹ thuật, cho vay online rất đơn giản nếu dữ liệu, thông tin cá nhân của khách hàng đưa lên online, từ đó, ngân hàng có thể xét duyệt khoản vay rất nhanh chóng. Nhìn nhận một số cản trở khi cho vay online, ông Hiếu cho rằng Việt Nam hiện chưa có hệ thống chấm điểm tín dụng phổ thông cho người dân mà chỉ dành cho các khách hàng của ngân hàng.

Trái lại, tại Mỹ phần lớn là vay online, ngân hàng phải mua dịch vụ của những công ty chấm điểm tín dụng để có ngay điểm tín dụng của khách hàng, hệ thống như thế rất minh bạch. Vì vậy, chỉ trong một vài phút là ngân hàng phản hồi cho vay hay không, lãi suất bao nhiêu, tùy theo điểm tín dụng cao hay thấp. Hơn hết, người dân có thể dùng điểm tín dụng để điều chỉnh hành vi tín dụng để trả nợ nhanh hơn, đúng hạn khi điểm tín dụng thấp.

“Ở Việt Nam, các ngân hàng chỉ có hệ thống chấm điểm tín dụng cho khách hàng của họ, còn những người không phải khách hàng thì chưa có. Trong khi các ngân hàng ở bên Mỹ dựa vào hệ thống chấm điểm tín dụng của những công ty chấm điểm tín dụng độc lập và kéo dữ liệu khách hàng từ các công ty này” - ông Hiếu chia sẻ.

Về vướng mắc khi vay trực tuyến, hiện nhiều khách hàng than phiền về việc bỗng dưng dính nợ xấu khi trễ hạn thanh toán các khoản vay online, do ứng dụng không cho khách thanh toán ngay khoản phí trễ hạn mà buộc đến kỳ hạn mới được thanh toán và không có thông báo nhắc nộp. Điều này khiến khách hàng quay lưng và không mặn mà vay những lần sau.

Về lãi suất, nhiều ý kiến cho rằng vay online ở mức cao khi vay trên app gần 2%/tháng hay cho vay trên các sàn thương mại điện tử với lãi suất khoảng 3%/tháng. Theo vị chuyên gia này, lãi suất cho vay tiêu dùng từ 20 - 30%/năm là hợp lý, còn trên 30% là khá cao.

Hơn 11 tấn vàng được Ngân hàng Nhà nước bán trực tiếp ra thị trường

Thông tin về công tác quản lý, điều hành thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết từ năm 2020 đến nay, giá vàng thế giới biến động rất phức tạp, khó lường theo xu hướng tăng là chủ đạo.

Tính đến sáng ngày 8/11/2024, giá vàng thế giới ở mức 2.697 USD/ounce; tăng khoảng 650 USD/ounce, tương đương tăng 32% so với đầu năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu khiến giá vàng quốc tế tăng mạnh trong thời gian gần đây là do căng thẳng địa chính trị, thương mại, xung đột vũ trang tại nhiều quốc gia trên thế giới leo thang khiến nhu cầu tiêu thụ vàng vật chất ở một số nước và dự trữ vàng của nhiều ngân hàng trung ương tăng mạnh.

Trong nước, giá vàng biến động tăng mạnh cùng chiều với giá vàng thế giới. Về phía cung, từ năm 2014 - 2023, NHNN không tăng cung vàng miếng SJC ra thị trường. Tuy nhiên, từ tháng 4/2024 đến nay, trước xu hướng tăng mạnh của giá vàng thế giới, dư luận quan tâm, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt việc giảm chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế. Từ 19/4-23/5/2024, NHNN tổ chức 9 phiên đấu thầu với tổng khối lượng trúng thầu là 48.500 lượng (tương đương khoảng 1,82 tấn). Tuy nhiên, sau 9 phiên can thiệp theo phương thức đấu thầu, chênh lệch giữa giá vàng SJC và giá thế giới vẫn ở mức cao.

Để nhanh chóng kiểm soát và giảm chênh lệch giữa giá vàng trong nước so với giá thế giới, NHNN chuyển sang phương thức bán vàng miếng qua 4 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC. “Từ ngày 3/6 - 29/10, NHNN tổ chức 44 phiên bán vàng miếng SJC trực tiếp, cung ứng ra thị trường 305.600 lượng vàng SJC, tương đương khoảng 11,46 tấn vàng” - NHNN thông tin.

Kể từ khi chính thức thông báo thực hiện phương án bán vàng miếng trực tiếp, chênh lệch giá bán vàng miếng trong nước so với giá thế giới đã giảm, hiện chỉ còn chênh khoảng 3 - 5 triệu đồng/lượng so với giá vàng thế giới (khoảng 5 - 7%), từ mức chênh lệch so với giá thế giới hơn 18 triệu đồng/lượng (25%)./.

Tú Anh

Đọc thêm

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 144,100
Hà Nội - PNJ 141,100 144,100
Đà Nẵng - PNJ 141,100 144,100
Miền Tây - PNJ 141,100 144,100
Tây Nguyên - PNJ 141,100 144,100
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 144,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 14,410
Miếng SJC Nghệ An 14,110 14,410
Miếng SJC Thái Bình 14,110 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 14,410
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 14,320
Trang sức 99.99 13,730 14,330
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 14,412
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 14,413
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 1,437
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 141,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 107,111
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 97,128
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 87,145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 83,294
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 5,962
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cập nhật: 03/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 03/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30