Ngày 14/9: Giá lúa ít biến động, giá gạo xuất khẩu bất ngờ giảm mạnh

(TBTCO) - Giá lúa gạo hôm nay (14/9) ở thị trường nội địa tiếp tục giảm 100 - 200 đồng/kg với gạo, giá mặt hàng lúa ổn định. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã điều chỉnh giảm 15 USD/tấn so với ngày hôm qua. Cụ thể, giá gạo 5% tấm hiện giảm xuống mức 613 - 617 USD/tấn và gạo 25% tấm còn 598 - 602 USD/tấn.
aa
Ngày 14/9: Giá lúa ít biến động, giá gạo xuất khẩu bất ngờ giảm mạnh
Giá gạo ngày 14/9 ở thị trường nội địa tiếp tục giảm 100 - 200 đồng/kg. Ảnh: T.L

Giá gạo trong nước tiếp tục kéo dài xu hướng giảm

Sáng 14/10, khảo sát tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo biến động trái chiều giữa mặt hàng lúa và gạo. Cụ thể, tại kho An Giang, theo cập nhật của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, lúa OM 18 có giá 8.000 - 8.100 đồng/kg, Đài thơm 8 ổn định ở mức 8.000 - 8.200 đồng/kg; OM 5451 có mức giá 7.700 - 8.000 đồng/kg; nàng Hoa 9 giá 8.000 - 8.400 đồng/kg; lúa IR 50404 ổn định ở mức 7.800 - 8.000 đồng/kg; lúa Nhật 7.800 - 8.000 đồng/kg.

Với lúa nếp, nếp An Giang khô ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; nếp Long An khô dao động 9.300 - 9.450 đồng/kg.

Với mặt hàng gạo, giá gạo hôm nay tiếp tục kéo dài xu hướng giảm. Theo đó, gạo nguyên liệu IR 504 dao động quanh mốc 11.00 - 11.8070 đồng/kg, giảm 100 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 ở mức 13.650 - 13.750 đồng/kg, giảm 50 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá phụ phẩm chững lại sau phiên điều chỉnh giảm. Theo đó, giá tấm IR 504 duy trì ổn định ở mức 11.500 đồng/kg, giá cám khô duy trì ổn định ở mức 7.100 - 7.200 đồng/kg.

Ghi nhận tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay, giao dịch lúa Thu đông các loại chậm, giá lúa các loại bình ổn. Trên thị trường gạo nội địa, giá gạo các loại có xu hướng giảm. Tại Đồng Tháp, An Giang, giá gạo các loại giảm 50 - 100 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ khu vực tỉnh An Giang, giá gạo ổn định, không biến động. Trong đó, nếp ruột giá 16.000 - 20.000 đồng/kg; gạo thường ở mức 12.500 - 14.000 đồng/kg, gạo Nàng Nhen giá 23.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động từ 18.000 - 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 16.000 - 18.500 đồng/kg; Hương Lài 19.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 15.500 đồng/kg; Nàng Hoa 19.000 đồng/kg; gạo Sóc thường giá 16.500 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 18.500 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg…

Giá gạo xuất khẩu giảm 15 USD/tấn

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã điều chỉnh giảm 15 USD/tấn với cả 2 chủng loại 5% và 25% tấm trong phiên giao dịch ngày 13/9. Cụ thể, giá gạo 5% tấm hiện giảm xuống mức 613 - 617 USD/tấn và gạo 25% tấm còn 598 - 602 USD/tấn. Như vậy, sau phiên điều chỉnh tăng 5 USD hôm qua, nay giá gạo bất ngờ giảm mạnh.

Trong khi gạo Việt Nam giảm thì các nguồn cung khác gồm Thái Lan và Pakistan vẫn giữ nguyên mức giá. Trong đó, gạo 5% tấm của Thái Lan ở mức 613 - 617 USD/tấn còn gạo 25% tấm ghi nhận mức 558-562 USD/tấn; tương tự của Pakistan cũng lần lượt là 608-612 và 538-542 USD/tấn. Với mức giá hiện nay, gạo Thái Lan và Việt Nam hiện ngang bằng nhau nhưng vẫn cao hơn gạo Pakistan 5 USD/tấn.

Dự báo về giá gạo trong thời gian tới, một doanh nghiệp có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh cho biết, nhiều khả năng giá gạo 5% tấm sẽ giữ mức giá trên dưới 600 USD/tấn, còn gạo Jasmine sẽ ở mức 699 - 700 USD/tấn./.

Thu Dung (tổng hợp)

Đọc thêm

Giá kim loại quý vẫn giằng co trong vùng thấp

Giá kim loại quý vẫn giằng co trong vùng thấp

(TBTCO) - Chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng, giá kim loại quý đồng loạt giảm phiên cuối tuần khi đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ bật tăng. Tuy nhiên, giá vẫn giằng co trong vùng thấp và khó có thể tăng cao so với cùng kỳ năm trước.
Giá dầu thế giới đảo chiều, tăng nhẹ trong phiên đầu tuần

Giá dầu thế giới đảo chiều, tăng nhẹ trong phiên đầu tuần

(TBTCO) - Trong phiên sáng đầu tuần (ngày 28/9), giá dầu thế giới đảo chiều, tăng nhẹ. Dầu WTI vượt 93 USD/thùng; dầu Brent vượt 98 USD/thùng.
Infographics: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa cả nước đến ngày 15/9 đạt 825,2 tỷ USD

Infographics: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa cả nước đến ngày 15/9 đạt 825,2 tỷ USD

(TBTCO) - Theo số liệu của Cục Hải quan, lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/9, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 825,2 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 400,84 tỷ USD; nhập khẩu đạt 424,35 tỷ USD; nhập siêu 23,51 tỷ USD.
Ngày 28/9: Giá bạc liên tục biến động

Ngày 28/9: Giá bạc liên tục biến động

Giá bạc trong nước và thế giới hôm nay (28/9) đồng loạt suy giảm. Cụ thể, giá bạc thỏi Phú Quý 999 1kilo giảm 1.333.000 đồng/kg ở chiều mua vào và 1.387.000 đồng/kg ở chiều bán ra. Trên thị trường quốc tế, giá bạc giao ngay giảm 2,61% so với giá đóng cửa phiên hôm qua.
Ngày 28/9: Giá cà phê trở lại sát 94.000 đồng/kg, hồ tiêu giảm

Ngày 28/9: Giá cà phê trở lại sát 94.000 đồng/kg, hồ tiêu giảm

Giá cà phê hôm nay (28/9) đứng ở mức 93.000 - 93.800 đồng/kg, gần như không đổi sau một tuần biến động mạnh. Trong khi đó, giá tiêu giảm khoảng 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước. Hiện giá trung bình tại các vùng trồng trọng điểm trong khoảng 136.000 - 140.000 đồng/kg.
Ngày 28/9: Giá cao su thế giới tiếp đà khởi sắc

Ngày 28/9: Giá cao su thế giới tiếp đà khởi sắc

Giá cao su thế giới hôm nay (28/9) ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc, nổi bật là đà tăng tại Thượng Hải và Singapore. Giá nguyên liệu duy trì ở mức cao cùng lo ngại nguồn cung gián đoạn đã hỗ trợ thị trường. Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục bình ổn.
Ngày 27/9: Giá cà phê tăng mạnh trở lại, hồ tiêu đi ngang

Ngày 27/9: Giá cà phê tăng mạnh trở lại, hồ tiêu đi ngang

Giá cà phê trong nước hôm nay (27/9) bật tăng trở lại 1.000 - 1.100 đồng/kg so với ngày hôm trước. Hiện giá trung bình tại các vùng trồng trọng điểm Tây Nguyên trong khoảng 93.000 - 93.800 đồng/kg. Trong khi đó, giá tiêu tiếp tục đi ngang ở mức 136.000 - 140.000 đồng/kg.
Ngày 27/9: Giá cao su trên sàn Thượng Hải và Singapore duy trì đà tăng

Ngày 27/9: Giá cao su trên sàn Thượng Hải và Singapore duy trì đà tăng

Giá cao su hôm nay (27/9) ghi nhận đà tăng tại sàn SHFE và SGX, với mức tăng lần lượt đạt 1,76 - 2,32% và 0,43 - 0,80%, tại Nhật Bản, giá diễn biến trái chiều giữa các kỳ hạn. Tại thị trường nội địa, giá cao su tại các doanh nghiệp lớn bình ổn.
Xem thêm