Nhiều lực đẩy giúp thanh toán số tăng trưởng mạnh mẽ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thanh toán số tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ và gặt hái thêm nhiều “trái ngọt” năm vừa qua. Hiện 84,7 triệu khách hàng cá nhân đã xác thực sinh trắc học, chiếm gần 73% khách có phát sinh giao dịch trên kênh số. Cùng với đó, dịch vụ Mobile Money dùng để thanh toán các dịch vụ có giá trị nhỏ tiếp tục được gia hạn trong lúc chờ nghị định mới được ban hành.
aa

Chia sẻ tại họp báo tổng kết ngành ngân hàng mới đây, ông Lê Văn Tuyên - Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, thời gian qua, NHNN tích cực chỉ đạo các tổ chức tín dụng truyền thông, bố trí nhân lực làm việc ngoài giờ, kể cả ngày nghỉ để hỗ trợ nhu cầu xác thực sinh trắc học tăng gấp đôi bình thường, tránh để khách hàng bị gián đoạn khi giao dịch ngân hàng điện tử từ đầu năm 2025. Nhiều ngân hàng cam kết hỗ trợ khách hàng hết tháng 1/2025 để triển khai.

73% lượng khách hàng xác thực sinh trắc học

Năm 2024 chứng kiến nhiều thay đổi về quy định liên quan đến hoạt động thanh toán không tiền mặt và triển khai nhiều giải pháp tăng cường bảo mật, an toàn, ngăn chặn các hành vi gian lận, từ đó, tạo lực đẩy cho thanh toán số tăng trưởng mạnh mẽ. Nổi bật là theo quy định của NHNN, một số giao dịch ngân hàng điện tử bắt buộc xác thực sinh trắc học từ ngày 1/1/2025.

Thống kê của Vụ Thanh toán (NHNN) cho thấy, có 84,7 triệu khách hàng đã xác thực sinh trắc, tương ứng chiếm gần 72,86% tổng lượng khách hàng cá nhân phát sinh trên kênh số.

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, những vụ lừa đảo, chiếm đoạt tiền trong tài khoản đã giảm trên 50% kể từ sau khi ứng dụng công nghệ sinh trắc học trong thanh toán.

"Một số ngân hàng có tỷ lệ xác thực cao sinh trắc học cao như: Vietinbank (83%), Vietcombank (92%), BIDV (88%) và Agribank (66%). Hầu hết các khách hàng cá nhân có nhu cầu thực hiện giao dịch thanh toán trên kênh điện tử đã được cập nhật sinh trắc học" - ông Tuyên cho biết.

Bên cạnh đó, NHNN cho biết, khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và hoạt động ngân hàng số tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, tạo sự đồng bộ và điều kiện thuận lợi cho phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, thúc đẩy hoạt động ngân hàng số, ứng dụng công nghệ mới và đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán.

Gần 85 triệu khách hàng đã xác thực sinh trắc học ngân hàng
Ảnh minh họa.

Ngành Ngân hàng cũng đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng. Vì vậy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và chuyển đổi số ngân hàng tiếp tục đạt kết quả tích cực.

Nhờ đó, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 56,86% về số lượng và 33,73% về giá trị; qua kênh Internet tăng 50,67% về số lượng và 33% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 54,51% về số lượng và 34,34% về giá trị. Giao dịch qua QR Code tăng ấn tượng nhất, lên tới 106,68% về số lượng và 84,77% về giá trị.

Ngoài ra, giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 6,82% về số lượng và 33,09% về giá trị; hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 30,73% về số lượng và 15,92% về giá trị.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt nhờ Mobile Money

Về việc triển khai thí điểm tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile Money), theo ông Lê Văn Tuyên, dịch vụ này được thí điểm tại ba doanh nghiệp viễn thông thời gian qua, góp phần thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt và sử dụng dịch vụ tài chính tại khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo.

"Tính tới tháng 11/2024, có khoảng 10,14 triệu tài khoản Mobile Money, trong đó, hơn 72% tài khoản tại khu vực nông thôn, miền núi; cùng 11.898 điểm kinh doanh và hơn 276.154 đơn vị chấp nhận thanh toán dịch vụ này" - ông Tuyên thông tin.

Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile Money của khách hàng, gồm giao dịch nạp rút tiền và thanh toán là gần 181 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch gần 6.193 tỷ đồng.

Gần 85 triệu khách hàng đã xác thực sinh trắc học ngân hàng
Ông Lê Văn Tuyên - Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước.

Gia hạn thí điểm Mobile Money trong khi chờ nghị định

"Để tạo hành lang pháp lý chính thức, NHNN phối hợp các bộ, ngành liên quan xây dựng quy định về lĩnh vực này. Năm 2024, NHNN xây dựng hồ sơ nghị định gửi ý kiến rộng rãi và thẩm định hồ sơ tại Bộ Tư pháp. NHNN cũng thống nhất với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an trình Chính phủ, đề xuất tiếp tục gia hạn cho dịch vụ Mobile Money trong thời gian chờ nghị định về quản lý dịch vụ này được cấp có thẩm quyền ban hành".

Theo đánh giá, việc triển khai dịch vụ Mobile Money đã góp phần cung ứng một kênh giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng và thuận tiện cho khách hàng. Bởi thay vì phải trực tiếp đến ngân hàng thực hiện giao dịch hay phải mang theo tiền mặt, khách hàng chỉ cần thao tác trên điện thoại di động hoặc đến các điểm kinh doanh gần nhất. Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ 24/7, thanh toán mọi lúc, mọi nơi với thiết bị di động.

Từ đó, thay đổi dần thói quen thanh toán bằng tiền mặt của người dân vẫn còn khá phổ biến hiện nay. Do có tác dụng cộng hưởng, người sử dụng dần quen với việc thanh toán không dùng tiền mặt và sẽ sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng khác, đặc biệt là với các giao dịch thanh toán có giá trị lớn, ví dụ như thanh toán qua tài khoản ngân hàng.

Đối với các khách hàng đã có tài khoản ngân hàng sẽ có thêm các lựa chọn sử dụng để thanh toán, phù hợp hơn với mục tiêu thanh toán có giá trị nhỏ.

Cùng với đó, chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp thực hiện thí điểm được đảm bảo, chưa xảy ra các rủi ro, sự cố lớn trong quá trình cung cấp dịch vụ, tạo niềm tin cho khách hàng sử dụng dịch vụ và tăng cường tiếp cận với đối tượng khách hàng mới, đặc biệt ở các khu vực còn khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ thanh toán và ngân hàng.

Số lượng khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã đạt được tỷ lệ cao so với tổng số lượng khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ Mobile Money trong thời gian vừa qua lên tới 72% đã cơ bản hoàn thành được mục tiêu của dịch vụ Mobile Money tại Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 9/3/2021./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 ▲400K 166,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 163,000 ▲400K 166,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 163,000 ▲400K 166,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 163,000 ▲400K 166,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 163,000 ▲400K 166,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 ▲400K 166,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 ▲50K 16,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 ▲50K 16,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 ▲50K 16,600 ▲50K
NL 99.90 14,950 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▼100K
Trang sức 99.9 15,790 ▲50K 16,490 ▲50K
Trang sức 99.99 15,800 ▲50K 16,500 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 02/05/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/05/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80