Kỷ niệm 18 năm thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam:

Nỗ lực thực hiện chính sách tín dụng đầu tư tạo động lực phát triển của đất nước

(TBTCO) - Trải qua gần 18 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, sự ủng hộ của các bộ, ngành, đoàn thể, các cơ quan trung ương và địa phương để VDB thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước.
aa

VDB đã từng bước thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị được giao, khẳng định được sự cần thiết, vị trí, vai trò vừa là định chế tài chính nhà nước, vừa là ngân hàng chính sách của Chính phủ (mô hình Ngân hàng Phát triển) trong chiến lược tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội đất nước; là công cụ của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế - xã hội và đất nước; đồng thời góp phần thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ và đặc biệt trong giai đoạn 2021 - 2030 đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định.

Cung ứng vốn cho 200 dự án trọng điểm nhóm A

Lượng vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước cung ứng cho nền kinh tế thời gian qua trên 200.000 tỷ đồng đã đáp ứng một phần quan trọng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cũng như nâng cao năng lực sản xuất của các ngành kinh tế. Những dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tại VDB có tổng mức đầu tư lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài.

Nỗ lực thực hiện chính sách tín dụng đầu tư tạo động lực phát triển của đất nước

Cho vay đầu tư dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Ảnh: T.H

Việc tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước giúp chủ đầu tư huy động thêm cùng các nguồn vốn khác để thực hiện nhiều dự án lớn, quan trọng (như các dự án: Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Lai Châu, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy Đạm Ninh Bình, Vệ tinh Vinasat 1 và 2, Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nhà máy điện gió Bạc Liêu, Nhà máy sữa TH Truemilk, Nhà máy Khí điện đạm Cà Mau…) và nhiều dự án thuộc các chương trình kinh tế trọng điểm, chương trình mang tính an sinh xã hội khác (xây mới, mở rộng cơ sở khám chữa bệnh của 18 bệnh viện công; kiên cố hoá kênh mương, tôn nền vượt lũ, giao thông nông thôn...).

VDB đã cho vay gần 200 dự án trọng điểm (nhóm A) trên phạm vi cả nước, trong đó hầu hết các dự án đều thuộc lĩnh vực công nghiệp cơ bản (xi măng, thép, ngành điện, giấy, phân bón, chế biến cao su, cơ khí, vệ tinh viễn thông) với tổng số vốn vay chiếm khoảng 50% tổng mức đầu tư. Nhiều dự án đã hoàn thành đưa vào hoạt động phát huy hiệu quả tốt, tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng miền và cả nước, góp phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, đồng thời là tiền đề quan trọng cho các ngành nghề, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển của nền kinh tế theo đúng chủ trương định huớng của Đảng, Chính phủ trong từng thời kỳ.

Bên cạnh đó, VDB luôn quan tâm, dành lượng vốn đáng kể để cho vay các chương trình, dự án thuộc an sinh xã hội, chương trình phát triển kinh tế vùng miền của các địa phương, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực đảm bảo mục tiêu xóa đói giảm nghèo và xây dựng phát triển nông thôn mới, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị - xã hội các địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Cùng với việc thực thi chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước, VDB còn thực hiện nhiệm vụ cho vay lại vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ. Qua đó đã giúp các doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh, tranh thủ thời cơ mở rộng và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp giữ vững thị trường truyền thống, khai thác các thị trường mới và tiềm năng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, tình hữu nghị với các nước trên thế giới theo đúng chủ trương của Đảng, Chính phủ trong hợp tác kinh tế và quan hệ giữa Việt Nam và các nước.

Thời cơ và định hướng phát triển

Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, chặng đường phát triển những năm qua của VDB cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, trong đó nổi bật là chất lượng tín dụng chưa cao và thâm hụt tài chính chậm được cải thiện. Nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ những vướng mắc về cơ chế chính sách, sự thiếu hụt về nguồn lực cũng như kinh nghiệm để vận hành VDB như một ngân hàng chính sách của Chính phủ.

Được sự quan tâm của Lãnh đạo Đảng, Chính phủ, sự ủng hộ của các bộ, ngành, Bộ Chính trị đã thông qua chủ trương tiếp tục cơ cấu lại VDB giai đoạn 2023 - 2027. Từ chủ trương quan trọng này, hàng loạt cơ chế, chính sách sẽ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ ban hành hoặc điều chỉnh nhằm tháo gỡ những vướng mắc về hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của VDB, từ đó nâng cao hiệu quả của các chính sách tín dụng mà Nhà nước giao VDB thực hiện.

Nỗ lực thực hiện chính sách tín dụng đầu tư tạo động lực phát triển của đất nước

Cho vay đầu tư Dự án Nhà máy Thủy diện Sơn La và các dự án thành phần, di dân tái định cư. Ảnh:T.H

Ngày 7/11/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước với nhiều nội dung quan trọng liên quan đến điều kiện cho vay, tăng thẩm quyền cho VDB quyết định về lãi suất cho vay. Nghị định số 78 cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi tiền vay theo nguyên tắc VDB tự chủ, tự chịu trách nhiệm, ngân sách nhà nước không cấp bù lãi suất và chi phí quản lý và nhiều nội dung đã được Chính phủ điều chỉnh nhằm khắc phục các bất cập đã nảy sinh trong quá trình thực hiện Nghị định số 32/2017/NĐ-CP.

Trong thời gian tới, VDB sẽ tiếp tục ban hành đầy đủ các quy định hướng dẫn nội bộ và công khai minh bạch quy trình cho vay để các doanh nghiệp, các chủ đầu tư dự án có đầy đủ thông tin tiếp cận việc triển khai cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước theo Nghị định số 78/2023/NĐ-CP của Chính phủ.

Đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước phù hợp với phương án cơ cấu lại, định hướng hoạt động của VDB giai đoạn 2023 - 2027 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 28/10/2023. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện cho chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước được sớm đưa vào cuộc sống, tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước đối với khách hàng có dự án đầu tư thuộc danh mục được Chính phủ quy định.

Để chủ động và tích cực triển khai có hiệu quả chính sách tín dụng đầu tư theo quy định mới của Chính phủ, trong thời gian qua, VDB đã chỉ đạo các chi nhánh chủ động rà soát, tìm kiếm các dự án thuộc đối tượng để nắm bắt nhu cầu. Theo đó, hiện nay có 104 dự án tiếp cận với các chi nhánh, sở giao dịch để thực hiện quy trình vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước với nhu cầu vay vốn 67.430 tỷ đồng (trong đó nhu cầu giải ngân năm 2024 là 18.018 tỷ đồng).

VDB cũng sửa đổi, ban hành kịp thời quy chế, quy trình nghiệp vụ quy định về công tác cho vay, thẩm định, bảo đảm tiền vay, quy chế hoạt động của Hội đồng tín dụng..., đồng thời, xác định và công bố kịp thời lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước.

Đồng thời, tập trung nguồn nhân lực có kinh nghiệm và trình độ để tư vấn, hướng dẫn cho khách hàng trong việc hoàn thiện hồ sơ vay vốn đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Cùng với đó, VDB tiếp tục tiết giảm chi phí để giảm mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước tạo hấp dẫn cho doanh nghiệp vay vốn. VDB cũng sẽ nỗ lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiện đại hóa công nghệ để tối ưu hóa thời gian thẩm định dự án đầu tư; thời gian hoàn thiện thủ tục, hồ sơ vay vốn của khách hàng đảm bảo hiệu quả và minh bạch.../.

Quang Minh

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17630 17903 18478
CAD 17970 18245 18862
CHF 31821 32202 32852
CNY 0 3829 3922
EUR 29301 29521 30602
GBP 33905 34295 35228
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15136
SGD 19762 20044 20614
THB 704 767 821
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80