Rà soát lại Nghị định 24, thấp thỏm với số phận của vàng miếng

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết quá trình thực hiện Nghị định 24/2012/NĐ-CP (về quản lý hoạt động kinh doanh vàng). Trong đó, cơ quan này có thể đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường. Đây là một trong những yếu tố khá quan trọng liên quan đến “số phận” của vàng miếng, sau một giai đoạn dài loại vàng này luôn trong tình trạng “một mình một giá”.
aa
Rà soát lại Nghị định 24, thấp thỏm với số phận của vàng miếng
Nguyên nhân khiến giá vàng miếng SJC trong nước tăng mạnh trong những ngày vừa qua chủ yếu do yếu tố tâm lý trước đà tăng liên tục của giá vàng quốc tế. Ảnh: TL

Sẽ báo cáo trong tháng 1/2024

NHNN vừa chia sẻ thông tin cho biết, sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường vàng, chuẩn bị sẵn sàng để triển khai phương án can thiệp bình ổn thị trường vàng. Đặc biệt, một trong những thông tin đáng quan tâm là ngay trong tháng 1/2024, NHNN sẽ trình Chính phủ báo cáo tổng kết Nghị định 24, trong đó có đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định quản lý thị trường vàng để phù hợp với bối cảnh mới của thị trường.

Quan điểm của NHNN được đưa ra sau khi Thủ tướng Chính phủ vừa có công điện gửi NHNN và các bộ, ngành liên quan về các giải pháp quản lý thị trường vàng. Trong đó, Thủ tướng yêu cầu NHNN phải theo dõi sát diễn biến giá vàng thế giới và trong nước để khẩn trương thực hiện ngay các giải pháp theo quy định để bình ổn thị trường vàng. Cơ quan quản lý thị trường vàng phải chủ động xây dựng các kịch bản, phương án ứng phó với biến động của giá vàng thế giới và trong nước để sẵn sàng các biện pháp xử lý, sử dụng các công cụ theo thẩm quyền phù hợp, hiệu quả, kịp thời, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô. “Dứt khoát không để tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế, không để tác động tiêu cực đến tỷ giá, lãi suất, thị trường tiền tệ, ngoại hối và an toàn, an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia” - công điện của Thủ tướng nhấn mạnh.

Trước đó, thị trường vàng trong nước trải quả một số ngày “sôi sục”, giá vàng trong nước liên tục thiết lập đỉnh mới, riêng giá vàng miếng SJC 9999 bán ra đã có lúc vượt mốc lịch sử 80 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, từ chiều 28/12, giá vàng đã có tín hiệu hạ nhiệt và giảm giá khá nhanh. Diễn biến giá vàng sáng 29/12 cho thấy, giá vàng miếng SJC 9999 71,5 triệu đồng/lượng mua vào và 74,5 triệu đồng/lượng bán ra. Vàng nhẫn SJC 9999 giảm về mức 62,25 triệu đồng/lượng mua vào và 63,3 triệu đồng/lượng bán ra.

Thấp thỏm với số phận của vàng miếng

Rà soát lại Nghị định 24, thấp thỏm với số phận của vàng miếng
Thị trường vàng trong nước trải quả một số ngày “sôi sục”, giá vàng trong nước liên tục thiết lập đỉnh mới.

Một trong những nội dung đáng chú ý trong công điện của Thủ tướng có phần đề cập cụ thể về quản lý vàng miếng, khi đưa ra yêu cầu NHNN khẩn trương có giải pháp hiệu quả để quản lý, điều hành giá vàng miếng trong nước theo nguyên tắc thị trường. Thủ tướng yêu cầu không để tình trạng chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế ở mức cao như thời gian qua, ảnh hưởng tiêu cực đến điều hành kinh tế vĩ mô.

Việc quản lý vàng miếng hiện thực hiện theo quy định tại Nghị định 24, trong đó, một trong những nội dung quan trọng quy định trong văn bản này là Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Từ đó đến nay, thị trường chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (Công ty SJC) được phép sản xuất gia công vàng miếng với số lượng trong hạn mức của NHNN.

Với tính chất độc quyền “một mình một chợ”, vàng miếng SJC trong suốt thời gian dài luôn có giá cao hơn so với các loại vàng khác (vàng nhẫn, vàng trang sức…) dù cùng với tuổi vàng như nhau. Trong giai đoạn đầu năm 2023, mức chênh lệch vàng miếng SJC 9999 và vàng nhẫn 9999 cũng của SJC khoảng 14 triệu đồng/lượng, trong khi vào những thời điểm “sốt” vàng cuối tháng 12/2023, mức chênh lệch có lúc lên tới 15,5 - 16 triệu đồng/lượng.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc quy định độc quyền sản xuất vàng chính là “thủ phạm” dẫn đến tình trạng giá vàng miếng bị đẩy lên cao thời gian qua. Ông Huỳnh Trung Khánh - Phó Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho biết, do sự độc quyền vàng miếng SJC, nên nguồn cung ở thị trường nội địa khan hiếm. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước không được liên thông với thế giới. Theo đó, ông Khánh cho rằng, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng không còn phù hợp và Hiệp hội Kinh vàng Việt Nam cũng mong muốn nghị định này sớm được sửa đổi.

Mặc dù vậy, thời gian trước đây cũng có những quan điểm khác nhau về việc xác định vàng là “tiền tệ” hay là “hàng hóa” và đây chính là yếu tố then chốt để đưa đến quan điểm việc Nhà nước có cần độc quyền khâu sản xuất hay không. Về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên VIAC cho biết, theo các quan điểm truyền thống thì vàng cũng là một dạng “tiền tệ”, nhưng hiện nay thì việc này có thể không hoàn toàn hợp lý nữa.

Theo đó, về vấn đề liên quan đến pháp lý vàng, ông Đức cho rằng một số quy định trong Nghị định 24 cũng có thể xem sửa đổi cho phù hợp thực tế. Ngoài ra, một số văn bản luật cấp cao hơn cũng có thể cũng phải xem xét chỉnh sửa, chẳng hạn hạn như Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (phần về những điều cấm trong ngành nghề liên quan đến vàng), hoặc Luật Đầu tư (tách các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện)…

Củng cố lòng tin của người dân về giá trị đồng tiền Việt Nam

Theo NHNN, nguyên nhân khiến giá vàng miếng SJC trong nước tăng mạnh trong những ngày vừa qua chủ yếu do yếu tố tâm lý trước đà tăng liên tục của giá vàng quốc tế. Do vậy, trong những ngày giá vàng quốc tế biến động tăng mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước thường tăng với tốc độ nhanh hơn.

Trong bối cảnh này, NHNN cho biết đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường vàng, chuẩn bị sẵn sàng triển khai phương án can thiệp.

Trong khi đó, một trong những nội dung công điện của Thủ tướng Chính phủ đối với NHNN và các cơ quan liên quan là cần chủ động hơn về truyền thông để công khai, minh bạch về chủ trương, chính sách quản lý thị trường tài chính, tiền tệ, ngoại hối và vàng, củng cố niềm tin vào giá trị đồng Việt Nam và ổn định tâm lý người dân, tạo đồng thuận xã hội.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30