Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Saigonbank đặt mục tiêu lợi nhuận năm 2025 tăng gấp ba lần so với năm 2024, tiến gần mức kỷ lục năm 2023, mặc dù lợi nhuận năm trước giảm 70% và chỉ đạt 27% so với chỉ tiêu. Ngân hàng cũng đẩy mạnh việc tăng vốn điều lệ, do hiện đáp ứng yêu cầu mức vốn điều lệ tối thiểu theo Quyết định 689/QĐ-TT là 5.000 tỷ đồng.
aa
10 tổ chức chi phối gần như toàn bộ vốn tại ngân hàng Saigonbank Một ngân hàng "bé hạt tiêu" đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 70% Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (Saigonbank - mã Ck: SGB) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 vào ngày 24/04 tại TP. Hồ Chí Minh.

Nhiều chỉ tiêu tăng ổn định, riêng lợi nhuận bứt phá

Theo tài liệu công bố trước đại hội, Hội đồng Quản trị Saigonbank sẽ trình các cổ đông thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025, phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, phương án phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Lợi nhuận trước thuế tăng gấp 3 lần

Saigonbank đề ra mục tiêu năm 2025 đạt tổng tài sản 34.900 tỷ đồng, tăng 5%. Vốn huy động đạt 30.100 tỷ đồng, tăng 5% và dư nợ cho vay đạt 24.700 tỷ đồng, tăng 10%. Đáng chú ý, ngân hàng đề ra mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 300 tỷ đồng trong năm 2025, gấp 3 lần năm trước, chỉ thấp hơn mức kỷ lục từng đạt được năm 2023 (332,2 tỷ đồng).

Theo đó, năm 2025, Saigonbank đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 34.900 tỷ đồng, tăng nhẹ 5%; vốn huy động và dư nợ cho vay lần lượt tăng 5% và 10%.

Trong khi đó, nhà băng này lại đặt mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đạt hơn 300 tỷ đồng trong năm 2025, cao hơn rất nhiều so với con số thực hiện năm 2024 và tiến sát tới mốc kỷ lục đã đạt được năm 2023.

Để đạt được mục tiêu này, lãnh đạo Saigonbank cho biết, ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trên nguyên tắc đảm bảo thanh khoản và tối ưu hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, áp dụng nhiều kênh huy động vốn đa dạng phát triển trên nền tảng số, thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về lãi suất…

Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng phù hợp với năng lực quản lý rủi ro, khả năng huy động vốn, đảm bảo khả năng thanh khoản; triển khai đồng bộ các giải pháp để thu hồi các khoản nợ tồn đọng nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng; kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ theo quy định.

Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng
Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng. Ảnh tư liệu.

Năm 2025, Saigonbank phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ phát hành là 10%, tổng giá trị là 338,799 tỷ đồng, nâng vốn điều lệ lên 3.726,8 tỷ đồng. Ngân hàng dự kiến dùng số vốn tăng thêm để đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, đầu tư đổi mới hạ tầng công nghệ thông tin chuyển đổi số; từng bước đáp ứng yêu cầu vốn điều lệ của NHNN; mở rộng quy mô tín dụng, kinh doanh vốn…

Danh sách cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ trở lên của Saigonbank gồm: Văn phòng Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (18,18%), Công ty TNHH MTV Xây dựng và kinh doanh Nhà Phú Nhuận (16,64%), Công ty TNHH MTV Du lịch thương mại Kỳ Hòa (16,35%), Công ty TNHH MTV Dầu khí TP. Hồ Chí Minh. Các cổ đông này có tỷ lệ sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định, vấn đề này đã và đang được Saigonbank phối hợp với các cổ đông quan tâm, thực hiện từ các năm trước.

Ngoài ra, đầu năm 2025, Công ty cổ phần Phát Đại Cát đã trở thành cổ đông lớn thứ 5 của Saigonbank khi nắm giữ 33,5 triệu cổ phiếu SGB, nâng tỷ lệ sở hữu lên 9,889%. Được thành lập vào tháng 1/2022, Phát Đại Cát có trụ sở tại 198 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Hồ Chí Minh, hoạt động trong lĩnh vực bất động sản. Cơ cấu cổ đông của công ty bao gồm: Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Nguyễn Kim nắm giữ 95% vốn; Công ty TNHH MTV Nguyễn Kim Express & Logistics sở hữu 2% vốn; Công ty TNHH MTV Đầu tư xây dựng Hoàng Kim nắm giữ 3% vốn.

Trong báo cáo trình đại hội, Ban kiểm soát Saigonbank cho rằng, Ngân hàng cần tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng vốn điều lệ tối thiểu 5.000 tỷ đồng và phối hợp với các cổ đông lớn có giải pháp để khắc phục tồn tại về tỷ lệ sở hữu cổ phần nhằm đảm bảo tuân thủ quy định.

Lợi nhuận giảm mạnh, nợ xấu dềnh lên

Về tình hình kinh doanh, trong quý IV/2024, Saigonbank ghi nhận khoản lỗ trước thuế gần 114 tỷ đồng do các nguồn thu sụt giảm và chi phí hoạt động tăng. Lũy kế cả năm, ngân hàng lãi trước thuế hơn 99 tỷ đồng, giảm 70% so với năm trước và đạt 27% chỉ tiêu kế hoạch.

Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng
Nguồn: Saigonbank.

Năm 2024, tổng tài sản của Saigonbank đạt 33.260,4 tỷ đồng, tăng 5,59% so với đầu năm, đạt 103% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2024, trong đó vốn điều lệ là 3.387,99 tỷ đồng. Vốn huy động là 28.641,12 tỷ đồng, tăng 7,64% và đạt 105% so với kế hoạch. Trong đó, vốn huy động từ doanh nghiệp và dân cư là 24.413,12 tỷ đồng, chiếm 85,24% tổng nguồn vốn huy động và tăng 3,64%.

Kinh tế biến động khiến nợ xấu tại Saigonbank gia tăng

Trong báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2024, Tổng Giám đốc Saigonbank Trần Thanh Giang cho biết, tình hình kinh tế biến động bất lợi ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập, trả nợ của khách hàng. Thu nhập bị sụt giảm so với kế hoạch nên dòng tiền trả nợ của khách hàng bị ảnh hưởng, dẫn đến việc chậm thanh toán nợ tại Saigonbank và các tổ chức tín dụng khác, làm cho nợ nhóm 3 - 5 có xu hướng tăng.

Dư nợ tín dụng đến cuối năm 2024 đạt 22.494,54 tỷ đồng, tăng 10,39% so với đầu năm, hoàn thành 98% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2024.

Chất lượng tài sản của Saigonbank có dấu hiệu suy giảm khi nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) đạt 580 tỷ đồng, tăng hơn 40% so với đầu năm.

Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tăng 73% lên 400 tỷ đồng, chiếm 69% tổng nợ xấu. Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) cũng tăng gần 2,7 lần, khiến tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay tăng từ 2,02% lên 2,66%.

Trong năm 2024, Saigonbank nỗ lực xử lý nợ bằng nhiều biện pháp linh hoạt, kiện toàn ban chỉ đạo, xử lý, thu hồi nợ xấu tại Saigonbank; thành lập tổ xử lý nợ xấu tại các chi nhánh có nợ xấu, nợ xấu đã bán cho VAMC, nợ nội bảng và tiềm ẩn rủi ro trên 3%. Đồng thời, tiếp tục triển khai các công việc có liên quan theo kế hoạch xử lý nợ, nợ VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn thành nợ xấu, đảm bảo thấp hơn theo chỉ đạo của NHNN.

Trong năm 2024, Saigonbank thực hiện tăng vốn điều lệ dưới hình thức phát hành cổ phiếu để chỉ trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu (307,99 tỷ đồng), nâng vốn điều lệ lên 3.387,99 tỷ đồng, nhưng vẫn chưa đáp ứng vốn điều lệ tối thiểu 5.000 tỷ đồng đến năm 2025 theo quy định tại Quyết định 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17621 17894 18473
CAD 17955 18230 18848
CHF 31769 32150 32798
CNY 0 3830 3923
EUR 29257 29478 30558
GBP 33875 34264 35202
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14544 15134
SGD 19751 20032 20608
THB 704 767 821
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80