Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Saigonbank đặt mục tiêu lợi nhuận năm 2025 tăng gấp ba lần so với năm 2024, tiến gần mức kỷ lục năm 2023, mặc dù lợi nhuận năm trước giảm 70% và chỉ đạt 27% so với chỉ tiêu. Ngân hàng cũng đẩy mạnh việc tăng vốn điều lệ, do hiện đáp ứng yêu cầu mức vốn điều lệ tối thiểu theo Quyết định 689/QĐ-TT là 5.000 tỷ đồng.
aa
10 tổ chức chi phối gần như toàn bộ vốn tại ngân hàng Saigonbank Một ngân hàng "bé hạt tiêu" đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 70% Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (Saigonbank - mã Ck: SGB) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 vào ngày 24/04 tại TP. Hồ Chí Minh.

Nhiều chỉ tiêu tăng ổn định, riêng lợi nhuận bứt phá

Theo tài liệu công bố trước đại hội, Hội đồng Quản trị Saigonbank sẽ trình các cổ đông thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025, phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, phương án phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Lợi nhuận trước thuế tăng gấp 3 lần

Saigonbank đề ra mục tiêu năm 2025 đạt tổng tài sản 34.900 tỷ đồng, tăng 5%. Vốn huy động đạt 30.100 tỷ đồng, tăng 5% và dư nợ cho vay đạt 24.700 tỷ đồng, tăng 10%. Đáng chú ý, ngân hàng đề ra mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 300 tỷ đồng trong năm 2025, gấp 3 lần năm trước, chỉ thấp hơn mức kỷ lục từng đạt được năm 2023 (332,2 tỷ đồng).

Theo đó, năm 2025, Saigonbank đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 34.900 tỷ đồng, tăng nhẹ 5%; vốn huy động và dư nợ cho vay lần lượt tăng 5% và 10%.

Trong khi đó, nhà băng này lại đặt mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đạt hơn 300 tỷ đồng trong năm 2025, cao hơn rất nhiều so với con số thực hiện năm 2024 và tiến sát tới mốc kỷ lục đã đạt được năm 2023.

Để đạt được mục tiêu này, lãnh đạo Saigonbank cho biết, ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trên nguyên tắc đảm bảo thanh khoản và tối ưu hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, áp dụng nhiều kênh huy động vốn đa dạng phát triển trên nền tảng số, thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về lãi suất…

Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng phù hợp với năng lực quản lý rủi ro, khả năng huy động vốn, đảm bảo khả năng thanh khoản; triển khai đồng bộ các giải pháp để thu hồi các khoản nợ tồn đọng nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng; kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ theo quy định.

Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng
Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng. Ảnh tư liệu.

Năm 2025, Saigonbank phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ phát hành là 10%, tổng giá trị là 338,799 tỷ đồng, nâng vốn điều lệ lên 3.726,8 tỷ đồng. Ngân hàng dự kiến dùng số vốn tăng thêm để đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, đầu tư đổi mới hạ tầng công nghệ thông tin chuyển đổi số; từng bước đáp ứng yêu cầu vốn điều lệ của NHNN; mở rộng quy mô tín dụng, kinh doanh vốn…

Danh sách cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ trở lên của Saigonbank gồm: Văn phòng Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (18,18%), Công ty TNHH MTV Xây dựng và kinh doanh Nhà Phú Nhuận (16,64%), Công ty TNHH MTV Du lịch thương mại Kỳ Hòa (16,35%), Công ty TNHH MTV Dầu khí TP. Hồ Chí Minh. Các cổ đông này có tỷ lệ sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định, vấn đề này đã và đang được Saigonbank phối hợp với các cổ đông quan tâm, thực hiện từ các năm trước.

Ngoài ra, đầu năm 2025, Công ty cổ phần Phát Đại Cát đã trở thành cổ đông lớn thứ 5 của Saigonbank khi nắm giữ 33,5 triệu cổ phiếu SGB, nâng tỷ lệ sở hữu lên 9,889%. Được thành lập vào tháng 1/2022, Phát Đại Cát có trụ sở tại 198 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Hồ Chí Minh, hoạt động trong lĩnh vực bất động sản. Cơ cấu cổ đông của công ty bao gồm: Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Nguyễn Kim nắm giữ 95% vốn; Công ty TNHH MTV Nguyễn Kim Express & Logistics sở hữu 2% vốn; Công ty TNHH MTV Đầu tư xây dựng Hoàng Kim nắm giữ 3% vốn.

Trong báo cáo trình đại hội, Ban kiểm soát Saigonbank cho rằng, Ngân hàng cần tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng vốn điều lệ tối thiểu 5.000 tỷ đồng và phối hợp với các cổ đông lớn có giải pháp để khắc phục tồn tại về tỷ lệ sở hữu cổ phần nhằm đảm bảo tuân thủ quy định.

Lợi nhuận giảm mạnh, nợ xấu dềnh lên

Về tình hình kinh doanh, trong quý IV/2024, Saigonbank ghi nhận khoản lỗ trước thuế gần 114 tỷ đồng do các nguồn thu sụt giảm và chi phí hoạt động tăng. Lũy kế cả năm, ngân hàng lãi trước thuế hơn 99 tỷ đồng, giảm 70% so với năm trước và đạt 27% chỉ tiêu kế hoạch.

Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng
Nguồn: Saigonbank.

Năm 2024, tổng tài sản của Saigonbank đạt 33.260,4 tỷ đồng, tăng 5,59% so với đầu năm, đạt 103% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2024, trong đó vốn điều lệ là 3.387,99 tỷ đồng. Vốn huy động là 28.641,12 tỷ đồng, tăng 7,64% và đạt 105% so với kế hoạch. Trong đó, vốn huy động từ doanh nghiệp và dân cư là 24.413,12 tỷ đồng, chiếm 85,24% tổng nguồn vốn huy động và tăng 3,64%.

Kinh tế biến động khiến nợ xấu tại Saigonbank gia tăng

Trong báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2024, Tổng Giám đốc Saigonbank Trần Thanh Giang cho biết, tình hình kinh tế biến động bất lợi ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập, trả nợ của khách hàng. Thu nhập bị sụt giảm so với kế hoạch nên dòng tiền trả nợ của khách hàng bị ảnh hưởng, dẫn đến việc chậm thanh toán nợ tại Saigonbank và các tổ chức tín dụng khác, làm cho nợ nhóm 3 - 5 có xu hướng tăng.

Dư nợ tín dụng đến cuối năm 2024 đạt 22.494,54 tỷ đồng, tăng 10,39% so với đầu năm, hoàn thành 98% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2024.

Chất lượng tài sản của Saigonbank có dấu hiệu suy giảm khi nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) đạt 580 tỷ đồng, tăng hơn 40% so với đầu năm.

Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tăng 73% lên 400 tỷ đồng, chiếm 69% tổng nợ xấu. Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) cũng tăng gần 2,7 lần, khiến tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay tăng từ 2,02% lên 2,66%.

Trong năm 2024, Saigonbank nỗ lực xử lý nợ bằng nhiều biện pháp linh hoạt, kiện toàn ban chỉ đạo, xử lý, thu hồi nợ xấu tại Saigonbank; thành lập tổ xử lý nợ xấu tại các chi nhánh có nợ xấu, nợ xấu đã bán cho VAMC, nợ nội bảng và tiềm ẩn rủi ro trên 3%. Đồng thời, tiếp tục triển khai các công việc có liên quan theo kế hoạch xử lý nợ, nợ VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn thành nợ xấu, đảm bảo thấp hơn theo chỉ đạo của NHNN.

Trong năm 2024, Saigonbank thực hiện tăng vốn điều lệ dưới hình thức phát hành cổ phiếu để chỉ trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu (307,99 tỷ đồng), nâng vốn điều lệ lên 3.387,99 tỷ đồng, nhưng vẫn chưa đáp ứng vốn điều lệ tối thiểu 5.000 tỷ đồng đến năm 2025 theo quy định tại Quyết định 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 149,000
Hà Nội - PNJ 145,000 149,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 149,000
Miền Tây - PNJ 145,000 149,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 149,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 149,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 12/07/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/07/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80