Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Saigonbank đặt mục tiêu lợi nhuận năm 2025 tăng gấp ba lần so với năm 2024, tiến gần mức kỷ lục năm 2023, mặc dù lợi nhuận năm trước giảm 70% và chỉ đạt 27% so với chỉ tiêu. Ngân hàng cũng đẩy mạnh việc tăng vốn điều lệ, do hiện đáp ứng yêu cầu mức vốn điều lệ tối thiểu theo Quyết định 689/QĐ-TT là 5.000 tỷ đồng.
aa
10 tổ chức chi phối gần như toàn bộ vốn tại ngân hàng Saigonbank Một ngân hàng "bé hạt tiêu" đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 70% Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (Saigonbank - mã Ck: SGB) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 vào ngày 24/04 tại TP. Hồ Chí Minh.

Nhiều chỉ tiêu tăng ổn định, riêng lợi nhuận bứt phá

Theo tài liệu công bố trước đại hội, Hội đồng Quản trị Saigonbank sẽ trình các cổ đông thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025, phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, phương án phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Lợi nhuận trước thuế tăng gấp 3 lần

Saigonbank đề ra mục tiêu năm 2025 đạt tổng tài sản 34.900 tỷ đồng, tăng 5%. Vốn huy động đạt 30.100 tỷ đồng, tăng 5% và dư nợ cho vay đạt 24.700 tỷ đồng, tăng 10%. Đáng chú ý, ngân hàng đề ra mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 300 tỷ đồng trong năm 2025, gấp 3 lần năm trước, chỉ thấp hơn mức kỷ lục từng đạt được năm 2023 (332,2 tỷ đồng).

Theo đó, năm 2025, Saigonbank đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 34.900 tỷ đồng, tăng nhẹ 5%; vốn huy động và dư nợ cho vay lần lượt tăng 5% và 10%.

Trong khi đó, nhà băng này lại đặt mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đạt hơn 300 tỷ đồng trong năm 2025, cao hơn rất nhiều so với con số thực hiện năm 2024 và tiến sát tới mốc kỷ lục đã đạt được năm 2023.

Để đạt được mục tiêu này, lãnh đạo Saigonbank cho biết, ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trên nguyên tắc đảm bảo thanh khoản và tối ưu hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, áp dụng nhiều kênh huy động vốn đa dạng phát triển trên nền tảng số, thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về lãi suất…

Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng phù hợp với năng lực quản lý rủi ro, khả năng huy động vốn, đảm bảo khả năng thanh khoản; triển khai đồng bộ các giải pháp để thu hồi các khoản nợ tồn đọng nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng; kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ theo quy định.

Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng
Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng. Ảnh tư liệu.

Năm 2025, Saigonbank phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ phát hành là 10%, tổng giá trị là 338,799 tỷ đồng, nâng vốn điều lệ lên 3.726,8 tỷ đồng. Ngân hàng dự kiến dùng số vốn tăng thêm để đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, đầu tư đổi mới hạ tầng công nghệ thông tin chuyển đổi số; từng bước đáp ứng yêu cầu vốn điều lệ của NHNN; mở rộng quy mô tín dụng, kinh doanh vốn…

Danh sách cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ trở lên của Saigonbank gồm: Văn phòng Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (18,18%), Công ty TNHH MTV Xây dựng và kinh doanh Nhà Phú Nhuận (16,64%), Công ty TNHH MTV Du lịch thương mại Kỳ Hòa (16,35%), Công ty TNHH MTV Dầu khí TP. Hồ Chí Minh. Các cổ đông này có tỷ lệ sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định, vấn đề này đã và đang được Saigonbank phối hợp với các cổ đông quan tâm, thực hiện từ các năm trước.

Ngoài ra, đầu năm 2025, Công ty cổ phần Phát Đại Cát đã trở thành cổ đông lớn thứ 5 của Saigonbank khi nắm giữ 33,5 triệu cổ phiếu SGB, nâng tỷ lệ sở hữu lên 9,889%. Được thành lập vào tháng 1/2022, Phát Đại Cát có trụ sở tại 198 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Hồ Chí Minh, hoạt động trong lĩnh vực bất động sản. Cơ cấu cổ đông của công ty bao gồm: Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Nguyễn Kim nắm giữ 95% vốn; Công ty TNHH MTV Nguyễn Kim Express & Logistics sở hữu 2% vốn; Công ty TNHH MTV Đầu tư xây dựng Hoàng Kim nắm giữ 3% vốn.

Trong báo cáo trình đại hội, Ban kiểm soát Saigonbank cho rằng, Ngân hàng cần tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng vốn điều lệ tối thiểu 5.000 tỷ đồng và phối hợp với các cổ đông lớn có giải pháp để khắc phục tồn tại về tỷ lệ sở hữu cổ phần nhằm đảm bảo tuân thủ quy định.

Lợi nhuận giảm mạnh, nợ xấu dềnh lên

Về tình hình kinh doanh, trong quý IV/2024, Saigonbank ghi nhận khoản lỗ trước thuế gần 114 tỷ đồng do các nguồn thu sụt giảm và chi phí hoạt động tăng. Lũy kế cả năm, ngân hàng lãi trước thuế hơn 99 tỷ đồng, giảm 70% so với năm trước và đạt 27% chỉ tiêu kế hoạch.

Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng
Nguồn: Saigonbank.

Năm 2024, tổng tài sản của Saigonbank đạt 33.260,4 tỷ đồng, tăng 5,59% so với đầu năm, đạt 103% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2024, trong đó vốn điều lệ là 3.387,99 tỷ đồng. Vốn huy động là 28.641,12 tỷ đồng, tăng 7,64% và đạt 105% so với kế hoạch. Trong đó, vốn huy động từ doanh nghiệp và dân cư là 24.413,12 tỷ đồng, chiếm 85,24% tổng nguồn vốn huy động và tăng 3,64%.

Kinh tế biến động khiến nợ xấu tại Saigonbank gia tăng

Trong báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2024, Tổng Giám đốc Saigonbank Trần Thanh Giang cho biết, tình hình kinh tế biến động bất lợi ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập, trả nợ của khách hàng. Thu nhập bị sụt giảm so với kế hoạch nên dòng tiền trả nợ của khách hàng bị ảnh hưởng, dẫn đến việc chậm thanh toán nợ tại Saigonbank và các tổ chức tín dụng khác, làm cho nợ nhóm 3 - 5 có xu hướng tăng.

Dư nợ tín dụng đến cuối năm 2024 đạt 22.494,54 tỷ đồng, tăng 10,39% so với đầu năm, hoàn thành 98% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2024.

Chất lượng tài sản của Saigonbank có dấu hiệu suy giảm khi nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) đạt 580 tỷ đồng, tăng hơn 40% so với đầu năm.

Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tăng 73% lên 400 tỷ đồng, chiếm 69% tổng nợ xấu. Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) cũng tăng gần 2,7 lần, khiến tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay tăng từ 2,02% lên 2,66%.

Trong năm 2024, Saigonbank nỗ lực xử lý nợ bằng nhiều biện pháp linh hoạt, kiện toàn ban chỉ đạo, xử lý, thu hồi nợ xấu tại Saigonbank; thành lập tổ xử lý nợ xấu tại các chi nhánh có nợ xấu, nợ xấu đã bán cho VAMC, nợ nội bảng và tiềm ẩn rủi ro trên 3%. Đồng thời, tiếp tục triển khai các công việc có liên quan theo kế hoạch xử lý nợ, nợ VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn thành nợ xấu, đảm bảo thấp hơn theo chỉ đạo của NHNN.

Trong năm 2024, Saigonbank thực hiện tăng vốn điều lệ dưới hình thức phát hành cổ phiếu để chỉ trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu (307,99 tỷ đồng), nâng vốn điều lệ lên 3.387,99 tỷ đồng, nhưng vẫn chưa đáp ứng vốn điều lệ tối thiểu 5.000 tỷ đồng đến năm 2025 theo quy định tại Quyết định 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80