Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hầu hết các nhà băng đều cam kết kéo giảm tỷ lệ nợ xấu năm 2025 trước cổ đông. Với những giải pháp mạnh mẽ trong việc kiểm soát rủi ro hiệu quả và Nghị quyết 42 được luật hoá sắp tới, ngành Ngân hàng kỳ vọng tạo bước chuyển mình trong xử lý nợ và đẩy lùi nợ xấu.
aa
Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu
Tình hình nợ xấu tại một số ngân hàng cuối năm 2024 và kế hoạch năm 2025. Nguồn: TBTCVN tổng hợp

Hiện Đại hội đồng cổ đông năm 2025 đang bước vào mùa cao điểm, đồng loạt được tổ chức tại nhiều ngân hàng, hầu hết các nhà băng đều cam kết mạnh mẽ về mục tiêu kiểm soát nợ xấu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững, trong bối cảnh kinh tế còn đầy thách thức.

Ngân hàng đồng lòng đề ra mục tiêu kéo giảm nợ xấu

Thống kê từ một số ngân hàng đã công bố thông tin họp đại hội cho thấy, không ít ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ nợ xấu dưới 3% vào năm 2025 như MSB và ABBank. Trong khi đó, một số ngân hàng khác hướng tới mức thấp hơn dưới 2%, đơn cử, ACB và PGBank hướng đến tỷ lệ dưới 2%; Bac A Bank đặt mục tiêu dưới 1,5%, thấp hơn mức 1,24% của năm 2024; VietinBank đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1,8%... Hầu hết các ngân hàng đều hướng đến việc giảm tỷ lệ nợ xấu so với năm 2024 bằng cách tăng cường giám sát chất lượng tín dụng và quản lý rủi ro chặt chẽ hơn.

Giám sát chặt chẽ, duy trì nợ xấu dưới 1% các khoản giải ngân mới

Lãnh đạo NCB cho biết, năm 2024, Ngân hàng Nhà nước cấp cho NCB room tăng trưởng tín dụng là 25,4%, cao hơn khoảng 10 điểm % so với trung bình thị trường. Ngân hàng Nhà nước theo dõi, giám sát và quản lý chặt chẽ NCB với tất cả các khoản giải ngân mới, cứ sau khi ngân hàng giải ngân một khoản, trong vòng 7 - 10 ngày, chúng tôi phải nộp hồ sơ để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát. Tỷ lệ nợ xấu trong các khoản giải ngân mới liên tiếp ba năm gần đây của NCB đều dưới 1%, trung bình khoảng 0,82%.

Trước đó, tính đến cuối năm 2024, quy mô nợ xấu có dấu hiệu dềnh lên tại một số ngân hàng, với tỷ lệ nợ xấu cao hơn trung bình ngành. Chẳng hạn, NCB ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lên tới 19,54% với quy mô nợ nhóm 3 - 5 là 13.907 tỷ đồng; VPBank đạt 4,2% tương ứng 29.070 tỷ đồng; VIB là 3,51% với quy mô 11.373 tỷ đồng.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô nợ xấu dưới 10.000 tỷ đồng, OCB ghi nhận 6.870 tỷ đồng (chiếm 4,02% dư nợ tín dụng), ABBank là 3.691 tỷ đồng (3,74%) và BVBank ở mức 2.185 tỷ đồng (3,21%). Một số ngân hàng duy trì được tỷ lệ nợ xấu dưới 3% như: Vietbank với 2,7% (2.578 tỷ đồng) và MSB ở mức 2,68% (4.721 tỷ đồng).

Đáng chú ý, trong năm 2024, một số ngân hàng ghi nhận sự gia tăng mạnh của nợ xấu nhóm 5 - nhóm nợ có khả năng mất vốn. Đơn cử, ABBank có nợ nhóm 5 lên tới 2.107 tỷ đồng, chiếm 57% tổng quy mô nợ xấu và tăng tới 103,5% so với cùng kỳ. Tại VIB, nợ xấu nhóm 5 cũng ở mức cao với 6.119,2 tỷ đồng, chiếm khoảng 54% tổng nợ xấu, tăng mạnh 191% so với năm trước.

Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2024 của ABBank dù vẫn tăng trưởng ấn tượng 51,7%, nhưng mới đạt gần 78% kế hoạch đề ra. Theo lãnh đạo ABBank, việc chưa hoàn thành mục tiêu lợi nhuận do Đại hội đồng cổ đông thông qua chủ yếu đến từ nguyên nhân chi phí trích lập dự phòng tăng cao, xuất phát từ sự gia tăng nợ xấu trong năm.

Những giải pháp hóa giải thách thức nợ xấu

Nêu rõ những thách thức trong việc kiểm soát nợ xấu, chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới được tổ chức, bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch Ngân hàng Quốc Dân cho biết, do nền kinh tế thế giới và trong nước đối mặt với nhiều thách thức, trong đó sự phục hồi chậm của thị trường chứng khoán, trái phiếu và bất động sản, trong khi thị trường mua bán nợ chưa phát triển như kỳ vọng. Bên cạnh đó, thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nghiêm trọng, góp phần làm gia tăng nợ xấu.

“Đặc biệt, việc Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực, trong khi Luật Các tổ chức tín dụng 2024 không quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm, đã khiến công tác thu hồi và xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc" - lãnh đạo NCB nhấn mạnh.

Hiện NCB đang ghi nhận tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cao nhất trong hệ thống ngân hàng, bởi khi một khoản nợ chuyển sang quá hạn, ngân hàng buộc phải ngay lập tức dừng ghi nhận lãi dự thu và chuyển khoản vay ra theo dõi ngoại bảng. Vì vậy, công tác thu hồi và xử lý tài sản tồn đọng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của ngân hàng.

Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về đề án cơ cấu lại, NCB triển khai một loạt giải pháp quan trọng. Trong đó, ngân hàng thực hiện thoái lãi, trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ có vấn đề và xử lý các khoản tồn tại cũ, chủ yếu phát sinh trước năm 2021 khiến lợi nhuận năm 2024 ghi nhận mức âm.

Nhờ tiếp tục tập trung mạnh vào công tác thu hồi nợ xấu, tính đến nay, tổng số nợ gốc đã xử lý và thu hồi, bao gồm cả việc chuyển đổi tài sản tồn đọng thành tài sản có sinh lời của NCB đạt 26.287 tỷ đồng, tương đương gần 50% dư nợ tín dụng cũ.

Chất lượng tín dụng của NCB cải thiện đáng kể, khi nợ xấu phát sinh từ các khoản vay mới giải ngân chỉ chiếm 0,83% tổng danh mục nợ xấu hiện tại.

Trước thực tế tỷ lệ nợ xấu, trong đó, nợ xấu nhóm 5 tăng cao cùng kỳ, năm 2025, ABBank cũng tập trung nâng cao năng lực và chất lượng đánh giá, thẩm định và phê duyệt tín dụng nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời các rủi ro, tồn tại, vi phạm pháp luật, cũng như các vi phạm quy định nội bộ trong hoạt động cấp tín dụng. Đồng thời, ABBank sẽ thường xuyên theo dõi tình trạng tài sản bảo đảm để kịp thời phát hiện những thay đổi và biến động, từ đó có những giải pháp quản lý tài sản bảo đảm và quản lý khoản vay phù hợp.

Bên cạnh đó, ngân hàng sẽ thực hiện quyết liệt các giải pháp để hạn chế tối đa việc phát sinh nợ nhóm 2 và nợ xấu. Ngoài ra, ABBank sẽ kiện toàn tổ chức, ưu tiên nguồn lực và nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, đôn đốc, thu hồi nợ và xử lý từng khoản nợ xấu, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra trong Phương án cơ cấu lại và xử lý nợ xấu giai đoạn 2020 - 2025.

Kỳ vọng bước chuyển mình trong xử lý nợ xấu

Chia sẻ trước cổ đông về những khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 (Nghị quyết 42) của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực từ cuối năm 2023, ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng VIB nhấn mạnh, việc Nghị quyết 42 không được luật hóa đang ảnh hưởng rất lớn đến các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng hoạt động thực chất.

Theo đó, các ngân hàng thực hiện tái cơ cấu cho các doanh nghiệp lớn thường có lợi thế, nhưng đối với các ngân hàng có tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân cao lại gặp khó, vì phải trích lập dự phòng toàn bộ.

"Việc không được luật hóa Nghị quyết 42 khiến công tác thu hồi nợ trở nên rất khó khăn. Trong các cuộc họp giữa Chính phủ và các ngân hàng thương mại, chúng tôi đã nêu rõ vấn đề này và đề nghị Quốc hội, Chính phủ cùng Ngân hàng Nhà nước tìm cách giải quyết. Chúng tôi hy vọng rằng Nghị quyết 42 sẽ sớm được thông qua, điều này sẽ mang lại lợi ích lớn cho ngành Ngân hàng, giúp quá trình thu hồi nợ diễn ra nhanh chóng và tác động tích cực đến kết quả kinh doanh" - ông Vỹ kỳ vọng.

Năm 2025, Hiệp hội Ngân hàng cùng các ngân hàng thương mại cũng sẽ tập trung đóng góp ý kiến về nghị quyết xử lý nợ xấu, tổng hợp các vướng mắc trong quá trình thi hành án, đồng thời đề xuất luật hóa các quy định trong Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu. Hiệp hội cũng sẽ xây dựng và sớm ban hành các quy định về sổ tay hướng dẫn tái cấu trúc nợ ngoài tòa hay bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động thu hồi nợ. Với những nỗ lực và giải pháp mạnh mẽ đã và đang được triển khai, các ngân hàng kỳ vọng sẽ kéo giảm tỷ lệ nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80