Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hầu hết các nhà băng đều cam kết kéo giảm tỷ lệ nợ xấu năm 2025 trước cổ đông. Với những giải pháp mạnh mẽ trong việc kiểm soát rủi ro hiệu quả và Nghị quyết 42 được luật hoá sắp tới, ngành Ngân hàng kỳ vọng tạo bước chuyển mình trong xử lý nợ và đẩy lùi nợ xấu.
aa
Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu
Tình hình nợ xấu tại một số ngân hàng cuối năm 2024 và kế hoạch năm 2025. Nguồn: TBTCVN tổng hợp

Hiện Đại hội đồng cổ đông năm 2025 đang bước vào mùa cao điểm, đồng loạt được tổ chức tại nhiều ngân hàng, hầu hết các nhà băng đều cam kết mạnh mẽ về mục tiêu kiểm soát nợ xấu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững, trong bối cảnh kinh tế còn đầy thách thức.

Ngân hàng đồng lòng đề ra mục tiêu kéo giảm nợ xấu

Thống kê từ một số ngân hàng đã công bố thông tin họp đại hội cho thấy, không ít ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ nợ xấu dưới 3% vào năm 2025 như MSB và ABBank. Trong khi đó, một số ngân hàng khác hướng tới mức thấp hơn dưới 2%, đơn cử, ACB và PGBank hướng đến tỷ lệ dưới 2%; Bac A Bank đặt mục tiêu dưới 1,5%, thấp hơn mức 1,24% của năm 2024; VietinBank đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1,8%... Hầu hết các ngân hàng đều hướng đến việc giảm tỷ lệ nợ xấu so với năm 2024 bằng cách tăng cường giám sát chất lượng tín dụng và quản lý rủi ro chặt chẽ hơn.

Giám sát chặt chẽ, duy trì nợ xấu dưới 1% các khoản giải ngân mới

Lãnh đạo NCB cho biết, năm 2024, Ngân hàng Nhà nước cấp cho NCB room tăng trưởng tín dụng là 25,4%, cao hơn khoảng 10 điểm % so với trung bình thị trường. Ngân hàng Nhà nước theo dõi, giám sát và quản lý chặt chẽ NCB với tất cả các khoản giải ngân mới, cứ sau khi ngân hàng giải ngân một khoản, trong vòng 7 - 10 ngày, chúng tôi phải nộp hồ sơ để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát. Tỷ lệ nợ xấu trong các khoản giải ngân mới liên tiếp ba năm gần đây của NCB đều dưới 1%, trung bình khoảng 0,82%.

Trước đó, tính đến cuối năm 2024, quy mô nợ xấu có dấu hiệu dềnh lên tại một số ngân hàng, với tỷ lệ nợ xấu cao hơn trung bình ngành. Chẳng hạn, NCB ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lên tới 19,54% với quy mô nợ nhóm 3 - 5 là 13.907 tỷ đồng; VPBank đạt 4,2% tương ứng 29.070 tỷ đồng; VIB là 3,51% với quy mô 11.373 tỷ đồng.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô nợ xấu dưới 10.000 tỷ đồng, OCB ghi nhận 6.870 tỷ đồng (chiếm 4,02% dư nợ tín dụng), ABBank là 3.691 tỷ đồng (3,74%) và BVBank ở mức 2.185 tỷ đồng (3,21%). Một số ngân hàng duy trì được tỷ lệ nợ xấu dưới 3% như: Vietbank với 2,7% (2.578 tỷ đồng) và MSB ở mức 2,68% (4.721 tỷ đồng).

Đáng chú ý, trong năm 2024, một số ngân hàng ghi nhận sự gia tăng mạnh của nợ xấu nhóm 5 - nhóm nợ có khả năng mất vốn. Đơn cử, ABBank có nợ nhóm 5 lên tới 2.107 tỷ đồng, chiếm 57% tổng quy mô nợ xấu và tăng tới 103,5% so với cùng kỳ. Tại VIB, nợ xấu nhóm 5 cũng ở mức cao với 6.119,2 tỷ đồng, chiếm khoảng 54% tổng nợ xấu, tăng mạnh 191% so với năm trước.

Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2024 của ABBank dù vẫn tăng trưởng ấn tượng 51,7%, nhưng mới đạt gần 78% kế hoạch đề ra. Theo lãnh đạo ABBank, việc chưa hoàn thành mục tiêu lợi nhuận do Đại hội đồng cổ đông thông qua chủ yếu đến từ nguyên nhân chi phí trích lập dự phòng tăng cao, xuất phát từ sự gia tăng nợ xấu trong năm.

Những giải pháp hóa giải thách thức nợ xấu

Nêu rõ những thách thức trong việc kiểm soát nợ xấu, chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới được tổ chức, bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch Ngân hàng Quốc Dân cho biết, do nền kinh tế thế giới và trong nước đối mặt với nhiều thách thức, trong đó sự phục hồi chậm của thị trường chứng khoán, trái phiếu và bất động sản, trong khi thị trường mua bán nợ chưa phát triển như kỳ vọng. Bên cạnh đó, thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nghiêm trọng, góp phần làm gia tăng nợ xấu.

“Đặc biệt, việc Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực, trong khi Luật Các tổ chức tín dụng 2024 không quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm, đã khiến công tác thu hồi và xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc" - lãnh đạo NCB nhấn mạnh.

Hiện NCB đang ghi nhận tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cao nhất trong hệ thống ngân hàng, bởi khi một khoản nợ chuyển sang quá hạn, ngân hàng buộc phải ngay lập tức dừng ghi nhận lãi dự thu và chuyển khoản vay ra theo dõi ngoại bảng. Vì vậy, công tác thu hồi và xử lý tài sản tồn đọng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của ngân hàng.

Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về đề án cơ cấu lại, NCB triển khai một loạt giải pháp quan trọng. Trong đó, ngân hàng thực hiện thoái lãi, trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ có vấn đề và xử lý các khoản tồn tại cũ, chủ yếu phát sinh trước năm 2021 khiến lợi nhuận năm 2024 ghi nhận mức âm.

Nhờ tiếp tục tập trung mạnh vào công tác thu hồi nợ xấu, tính đến nay, tổng số nợ gốc đã xử lý và thu hồi, bao gồm cả việc chuyển đổi tài sản tồn đọng thành tài sản có sinh lời của NCB đạt 26.287 tỷ đồng, tương đương gần 50% dư nợ tín dụng cũ.

Chất lượng tín dụng của NCB cải thiện đáng kể, khi nợ xấu phát sinh từ các khoản vay mới giải ngân chỉ chiếm 0,83% tổng danh mục nợ xấu hiện tại.

Trước thực tế tỷ lệ nợ xấu, trong đó, nợ xấu nhóm 5 tăng cao cùng kỳ, năm 2025, ABBank cũng tập trung nâng cao năng lực và chất lượng đánh giá, thẩm định và phê duyệt tín dụng nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời các rủi ro, tồn tại, vi phạm pháp luật, cũng như các vi phạm quy định nội bộ trong hoạt động cấp tín dụng. Đồng thời, ABBank sẽ thường xuyên theo dõi tình trạng tài sản bảo đảm để kịp thời phát hiện những thay đổi và biến động, từ đó có những giải pháp quản lý tài sản bảo đảm và quản lý khoản vay phù hợp.

Bên cạnh đó, ngân hàng sẽ thực hiện quyết liệt các giải pháp để hạn chế tối đa việc phát sinh nợ nhóm 2 và nợ xấu. Ngoài ra, ABBank sẽ kiện toàn tổ chức, ưu tiên nguồn lực và nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, đôn đốc, thu hồi nợ và xử lý từng khoản nợ xấu, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra trong Phương án cơ cấu lại và xử lý nợ xấu giai đoạn 2020 - 2025.

Kỳ vọng bước chuyển mình trong xử lý nợ xấu

Chia sẻ trước cổ đông về những khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 (Nghị quyết 42) của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực từ cuối năm 2023, ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng VIB nhấn mạnh, việc Nghị quyết 42 không được luật hóa đang ảnh hưởng rất lớn đến các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng hoạt động thực chất.

Theo đó, các ngân hàng thực hiện tái cơ cấu cho các doanh nghiệp lớn thường có lợi thế, nhưng đối với các ngân hàng có tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân cao lại gặp khó, vì phải trích lập dự phòng toàn bộ.

"Việc không được luật hóa Nghị quyết 42 khiến công tác thu hồi nợ trở nên rất khó khăn. Trong các cuộc họp giữa Chính phủ và các ngân hàng thương mại, chúng tôi đã nêu rõ vấn đề này và đề nghị Quốc hội, Chính phủ cùng Ngân hàng Nhà nước tìm cách giải quyết. Chúng tôi hy vọng rằng Nghị quyết 42 sẽ sớm được thông qua, điều này sẽ mang lại lợi ích lớn cho ngành Ngân hàng, giúp quá trình thu hồi nợ diễn ra nhanh chóng và tác động tích cực đến kết quả kinh doanh" - ông Vỹ kỳ vọng.

Năm 2025, Hiệp hội Ngân hàng cùng các ngân hàng thương mại cũng sẽ tập trung đóng góp ý kiến về nghị quyết xử lý nợ xấu, tổng hợp các vướng mắc trong quá trình thi hành án, đồng thời đề xuất luật hóa các quy định trong Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu. Hiệp hội cũng sẽ xây dựng và sớm ban hành các quy định về sổ tay hướng dẫn tái cấu trúc nợ ngoài tòa hay bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động thu hồi nợ. Với những nỗ lực và giải pháp mạnh mẽ đã và đang được triển khai, các ngân hàng kỳ vọng sẽ kéo giảm tỷ lệ nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

(TBTCO) - Ngày 27–28/8/2026 vừa qua, Đoàn công tác của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) do Phó Tổng Giám đốc Bùi Văn Thông dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Tài chính Bền vững Toàn cầu lần thứ 16 tại thành phố Karlsruhe, Đức. Đặc biệt, trong khuôn khổ hội nghị, VDB đã vinh dự được trao Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững (Best Innovation in Sustainable Financial Products & Services) cho Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

(TBTCO) - Từ nay, khách hàng có thêm cơ hội nhận e-voucher từ VPBank thông qua chương trình ưu đãi “Hoàn tiền Thịnh Vượng ngay – Mở quà liền tay”. Cơ chế ưu đãi chồng ưu đãi này đang tạo thêm sức hút cho chương trình Hoàn tiền Thịnh Vượng, giúp mỗi lần mua sắm của khách hàng trở nên thú vị hơn.
BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Đồng hành cùng hộ kinh doanh, BAC A BANK tiếp tục mang đến ưu đãi thiết thực cho khách hàng đăng ký tham gia chương trình “Ting Ting thảnh thơi – Săn hời ưu đãi” từ 03/09/2026 đến hết 28/02/2027.
Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

(TBTCO) - Phiên đầu tháng 1/9, trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, tỷ giá trung tâm giữ ở mức 25.610 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi về 99,41 điểm, thị trường định giá 64% khả năng Fed tăng lãi suất ngày 16/9. Tại châu Âu, giới đầu tư chờ Chỉ số giá tiêu dùng hài hòa (HICP) tháng 8, khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,100 148,500
Hà Nội - PNJ 145,100 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,100 148,500
Miền Tây - PNJ 145,100 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,100 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,100 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 14,860
Miếng SJC Nghệ An 14,560 14,860
Miếng SJC Thái Bình 14,560 14,860
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,560 14,910
NL 99.99 13,700
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600
Trang sức 99.9 14,220 14,820
Trang sức 99.99 14,230 14,830
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 14,862
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 14,863
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,451 1,481
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,451 1,482
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,426 1,471
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,644 145,644
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,686 110,486
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,388 100,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,009 8,989
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,118 85,918
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,697 61,497
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cập nhật: 05/09/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18226 18501 19078
CAD 18339 18615 19235
CHF 31549 31929 32585
CNY 0 3840 3936
EUR 29649 29870 30951
GBP 34447 34839 35790
HKD 0 3193 3395
JPY 159 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 15004 15595
SGD 20023 20306 20876
THB 707 770 823
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,880 25,880 26,260
USD(1-2-5) 24,845 - -
USD(10-20) 24,845 - -
EUR 29,704 29,728 31,135
JPY 162.17 162.46 172.31
GBP 34,625 34,719 35,932
AUD 18,418 18,485 19,190
CAD 18,535 18,595 19,281
CHF 31,831 31,930 32,878
SGD 20,139 20,202 21,003
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,257 3,267 3,404
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 754.8 764.12 818.14
NZD 14,990 15,129 15,582
SEK - 2,684 2,778
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,755 2,852
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.66 - 6,799.36
TWD 742.75 - 899.84
SAR - 6,823.72 7,187.59
KWD - 82,620 87,911
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,875 25,905 26,285
EUR 29,785 29,905 31,100
GBP 34,683 34,822 35,855
HKD 3,260 3,273 3,390
CHF 31,753 31,881 32,810
JPY 163.36 164.02 172
AUD 18,453 18,527 19,125
SGD 20,234 20,315 20,912
THB 772 775 812
CAD 18,578 18,653 19,250
NZD 15,125 15,670
KRW 18.36 20.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25848 25848 26260
AUD 18409 18509 19431
CAD 18523 18623 19637
CHF 31777 31807 33389
CNY 3821.7 3846.7 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29817 29847 31572
GBP 34733 34783 36535
HKD 0 3330 0
JPY 162.99 163.49 174.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15115 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 735.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Cập nhật: 05/09/2026 06:30
Ngân hàng