Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hầu hết các nhà băng đều cam kết kéo giảm tỷ lệ nợ xấu năm 2025 trước cổ đông. Với những giải pháp mạnh mẽ trong việc kiểm soát rủi ro hiệu quả và Nghị quyết 42 được luật hoá sắp tới, ngành Ngân hàng kỳ vọng tạo bước chuyển mình trong xử lý nợ và đẩy lùi nợ xấu.
aa
Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu
Tình hình nợ xấu tại một số ngân hàng cuối năm 2024 và kế hoạch năm 2025. Nguồn: TBTCVN tổng hợp

Hiện Đại hội đồng cổ đông năm 2025 đang bước vào mùa cao điểm, đồng loạt được tổ chức tại nhiều ngân hàng, hầu hết các nhà băng đều cam kết mạnh mẽ về mục tiêu kiểm soát nợ xấu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững, trong bối cảnh kinh tế còn đầy thách thức.

Ngân hàng đồng lòng đề ra mục tiêu kéo giảm nợ xấu

Thống kê từ một số ngân hàng đã công bố thông tin họp đại hội cho thấy, không ít ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ nợ xấu dưới 3% vào năm 2025 như MSB và ABBank. Trong khi đó, một số ngân hàng khác hướng tới mức thấp hơn dưới 2%, đơn cử, ACB và PGBank hướng đến tỷ lệ dưới 2%; Bac A Bank đặt mục tiêu dưới 1,5%, thấp hơn mức 1,24% của năm 2024; VietinBank đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1,8%... Hầu hết các ngân hàng đều hướng đến việc giảm tỷ lệ nợ xấu so với năm 2024 bằng cách tăng cường giám sát chất lượng tín dụng và quản lý rủi ro chặt chẽ hơn.

Giám sát chặt chẽ, duy trì nợ xấu dưới 1% các khoản giải ngân mới

Lãnh đạo NCB cho biết, năm 2024, Ngân hàng Nhà nước cấp cho NCB room tăng trưởng tín dụng là 25,4%, cao hơn khoảng 10 điểm % so với trung bình thị trường. Ngân hàng Nhà nước theo dõi, giám sát và quản lý chặt chẽ NCB với tất cả các khoản giải ngân mới, cứ sau khi ngân hàng giải ngân một khoản, trong vòng 7 - 10 ngày, chúng tôi phải nộp hồ sơ để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát. Tỷ lệ nợ xấu trong các khoản giải ngân mới liên tiếp ba năm gần đây của NCB đều dưới 1%, trung bình khoảng 0,82%.

Trước đó, tính đến cuối năm 2024, quy mô nợ xấu có dấu hiệu dềnh lên tại một số ngân hàng, với tỷ lệ nợ xấu cao hơn trung bình ngành. Chẳng hạn, NCB ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lên tới 19,54% với quy mô nợ nhóm 3 - 5 là 13.907 tỷ đồng; VPBank đạt 4,2% tương ứng 29.070 tỷ đồng; VIB là 3,51% với quy mô 11.373 tỷ đồng.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô nợ xấu dưới 10.000 tỷ đồng, OCB ghi nhận 6.870 tỷ đồng (chiếm 4,02% dư nợ tín dụng), ABBank là 3.691 tỷ đồng (3,74%) và BVBank ở mức 2.185 tỷ đồng (3,21%). Một số ngân hàng duy trì được tỷ lệ nợ xấu dưới 3% như: Vietbank với 2,7% (2.578 tỷ đồng) và MSB ở mức 2,68% (4.721 tỷ đồng).

Đáng chú ý, trong năm 2024, một số ngân hàng ghi nhận sự gia tăng mạnh của nợ xấu nhóm 5 - nhóm nợ có khả năng mất vốn. Đơn cử, ABBank có nợ nhóm 5 lên tới 2.107 tỷ đồng, chiếm 57% tổng quy mô nợ xấu và tăng tới 103,5% so với cùng kỳ. Tại VIB, nợ xấu nhóm 5 cũng ở mức cao với 6.119,2 tỷ đồng, chiếm khoảng 54% tổng nợ xấu, tăng mạnh 191% so với năm trước.

Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2024 của ABBank dù vẫn tăng trưởng ấn tượng 51,7%, nhưng mới đạt gần 78% kế hoạch đề ra. Theo lãnh đạo ABBank, việc chưa hoàn thành mục tiêu lợi nhuận do Đại hội đồng cổ đông thông qua chủ yếu đến từ nguyên nhân chi phí trích lập dự phòng tăng cao, xuất phát từ sự gia tăng nợ xấu trong năm.

Những giải pháp hóa giải thách thức nợ xấu

Nêu rõ những thách thức trong việc kiểm soát nợ xấu, chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới được tổ chức, bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch Ngân hàng Quốc Dân cho biết, do nền kinh tế thế giới và trong nước đối mặt với nhiều thách thức, trong đó sự phục hồi chậm của thị trường chứng khoán, trái phiếu và bất động sản, trong khi thị trường mua bán nợ chưa phát triển như kỳ vọng. Bên cạnh đó, thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nghiêm trọng, góp phần làm gia tăng nợ xấu.

“Đặc biệt, việc Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực, trong khi Luật Các tổ chức tín dụng 2024 không quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm, đã khiến công tác thu hồi và xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc" - lãnh đạo NCB nhấn mạnh.

Hiện NCB đang ghi nhận tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cao nhất trong hệ thống ngân hàng, bởi khi một khoản nợ chuyển sang quá hạn, ngân hàng buộc phải ngay lập tức dừng ghi nhận lãi dự thu và chuyển khoản vay ra theo dõi ngoại bảng. Vì vậy, công tác thu hồi và xử lý tài sản tồn đọng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của ngân hàng.

Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về đề án cơ cấu lại, NCB triển khai một loạt giải pháp quan trọng. Trong đó, ngân hàng thực hiện thoái lãi, trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ có vấn đề và xử lý các khoản tồn tại cũ, chủ yếu phát sinh trước năm 2021 khiến lợi nhuận năm 2024 ghi nhận mức âm.

Nhờ tiếp tục tập trung mạnh vào công tác thu hồi nợ xấu, tính đến nay, tổng số nợ gốc đã xử lý và thu hồi, bao gồm cả việc chuyển đổi tài sản tồn đọng thành tài sản có sinh lời của NCB đạt 26.287 tỷ đồng, tương đương gần 50% dư nợ tín dụng cũ.

Chất lượng tín dụng của NCB cải thiện đáng kể, khi nợ xấu phát sinh từ các khoản vay mới giải ngân chỉ chiếm 0,83% tổng danh mục nợ xấu hiện tại.

Trước thực tế tỷ lệ nợ xấu, trong đó, nợ xấu nhóm 5 tăng cao cùng kỳ, năm 2025, ABBank cũng tập trung nâng cao năng lực và chất lượng đánh giá, thẩm định và phê duyệt tín dụng nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời các rủi ro, tồn tại, vi phạm pháp luật, cũng như các vi phạm quy định nội bộ trong hoạt động cấp tín dụng. Đồng thời, ABBank sẽ thường xuyên theo dõi tình trạng tài sản bảo đảm để kịp thời phát hiện những thay đổi và biến động, từ đó có những giải pháp quản lý tài sản bảo đảm và quản lý khoản vay phù hợp.

Bên cạnh đó, ngân hàng sẽ thực hiện quyết liệt các giải pháp để hạn chế tối đa việc phát sinh nợ nhóm 2 và nợ xấu. Ngoài ra, ABBank sẽ kiện toàn tổ chức, ưu tiên nguồn lực và nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, đôn đốc, thu hồi nợ và xử lý từng khoản nợ xấu, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra trong Phương án cơ cấu lại và xử lý nợ xấu giai đoạn 2020 - 2025.

Kỳ vọng bước chuyển mình trong xử lý nợ xấu

Chia sẻ trước cổ đông về những khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 (Nghị quyết 42) của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực từ cuối năm 2023, ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng VIB nhấn mạnh, việc Nghị quyết 42 không được luật hóa đang ảnh hưởng rất lớn đến các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng hoạt động thực chất.

Theo đó, các ngân hàng thực hiện tái cơ cấu cho các doanh nghiệp lớn thường có lợi thế, nhưng đối với các ngân hàng có tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân cao lại gặp khó, vì phải trích lập dự phòng toàn bộ.

"Việc không được luật hóa Nghị quyết 42 khiến công tác thu hồi nợ trở nên rất khó khăn. Trong các cuộc họp giữa Chính phủ và các ngân hàng thương mại, chúng tôi đã nêu rõ vấn đề này và đề nghị Quốc hội, Chính phủ cùng Ngân hàng Nhà nước tìm cách giải quyết. Chúng tôi hy vọng rằng Nghị quyết 42 sẽ sớm được thông qua, điều này sẽ mang lại lợi ích lớn cho ngành Ngân hàng, giúp quá trình thu hồi nợ diễn ra nhanh chóng và tác động tích cực đến kết quả kinh doanh" - ông Vỹ kỳ vọng.

Năm 2025, Hiệp hội Ngân hàng cùng các ngân hàng thương mại cũng sẽ tập trung đóng góp ý kiến về nghị quyết xử lý nợ xấu, tổng hợp các vướng mắc trong quá trình thi hành án, đồng thời đề xuất luật hóa các quy định trong Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu. Hiệp hội cũng sẽ xây dựng và sớm ban hành các quy định về sổ tay hướng dẫn tái cấu trúc nợ ngoài tòa hay bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động thu hồi nợ. Với những nỗ lực và giải pháp mạnh mẽ đã và đang được triển khai, các ngân hàng kỳ vọng sẽ kéo giảm tỷ lệ nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80