Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hầu hết các nhà băng đều cam kết kéo giảm tỷ lệ nợ xấu năm 2025 trước cổ đông. Với những giải pháp mạnh mẽ trong việc kiểm soát rủi ro hiệu quả và Nghị quyết 42 được luật hoá sắp tới, ngành Ngân hàng kỳ vọng tạo bước chuyển mình trong xử lý nợ và đẩy lùi nợ xấu.
aa
Nhiều ngân hàng cam kết mạnh mẽ đẩy lùi nợ xấu
Tình hình nợ xấu tại một số ngân hàng cuối năm 2024 và kế hoạch năm 2025. Nguồn: TBTCVN tổng hợp

Hiện Đại hội đồng cổ đông năm 2025 đang bước vào mùa cao điểm, đồng loạt được tổ chức tại nhiều ngân hàng, hầu hết các nhà băng đều cam kết mạnh mẽ về mục tiêu kiểm soát nợ xấu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững, trong bối cảnh kinh tế còn đầy thách thức.

Ngân hàng đồng lòng đề ra mục tiêu kéo giảm nợ xấu

Thống kê từ một số ngân hàng đã công bố thông tin họp đại hội cho thấy, không ít ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ nợ xấu dưới 3% vào năm 2025 như MSB và ABBank. Trong khi đó, một số ngân hàng khác hướng tới mức thấp hơn dưới 2%, đơn cử, ACB và PGBank hướng đến tỷ lệ dưới 2%; Bac A Bank đặt mục tiêu dưới 1,5%, thấp hơn mức 1,24% của năm 2024; VietinBank đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1,8%... Hầu hết các ngân hàng đều hướng đến việc giảm tỷ lệ nợ xấu so với năm 2024 bằng cách tăng cường giám sát chất lượng tín dụng và quản lý rủi ro chặt chẽ hơn.

Giám sát chặt chẽ, duy trì nợ xấu dưới 1% các khoản giải ngân mới

Lãnh đạo NCB cho biết, năm 2024, Ngân hàng Nhà nước cấp cho NCB room tăng trưởng tín dụng là 25,4%, cao hơn khoảng 10 điểm % so với trung bình thị trường. Ngân hàng Nhà nước theo dõi, giám sát và quản lý chặt chẽ NCB với tất cả các khoản giải ngân mới, cứ sau khi ngân hàng giải ngân một khoản, trong vòng 7 - 10 ngày, chúng tôi phải nộp hồ sơ để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát. Tỷ lệ nợ xấu trong các khoản giải ngân mới liên tiếp ba năm gần đây của NCB đều dưới 1%, trung bình khoảng 0,82%.

Trước đó, tính đến cuối năm 2024, quy mô nợ xấu có dấu hiệu dềnh lên tại một số ngân hàng, với tỷ lệ nợ xấu cao hơn trung bình ngành. Chẳng hạn, NCB ghi nhận tỷ lệ nợ xấu lên tới 19,54% với quy mô nợ nhóm 3 - 5 là 13.907 tỷ đồng; VPBank đạt 4,2% tương ứng 29.070 tỷ đồng; VIB là 3,51% với quy mô 11.373 tỷ đồng.

Trong nhóm ngân hàng có quy mô nợ xấu dưới 10.000 tỷ đồng, OCB ghi nhận 6.870 tỷ đồng (chiếm 4,02% dư nợ tín dụng), ABBank là 3.691 tỷ đồng (3,74%) và BVBank ở mức 2.185 tỷ đồng (3,21%). Một số ngân hàng duy trì được tỷ lệ nợ xấu dưới 3% như: Vietbank với 2,7% (2.578 tỷ đồng) và MSB ở mức 2,68% (4.721 tỷ đồng).

Đáng chú ý, trong năm 2024, một số ngân hàng ghi nhận sự gia tăng mạnh của nợ xấu nhóm 5 - nhóm nợ có khả năng mất vốn. Đơn cử, ABBank có nợ nhóm 5 lên tới 2.107 tỷ đồng, chiếm 57% tổng quy mô nợ xấu và tăng tới 103,5% so với cùng kỳ. Tại VIB, nợ xấu nhóm 5 cũng ở mức cao với 6.119,2 tỷ đồng, chiếm khoảng 54% tổng nợ xấu, tăng mạnh 191% so với năm trước.

Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2024 của ABBank dù vẫn tăng trưởng ấn tượng 51,7%, nhưng mới đạt gần 78% kế hoạch đề ra. Theo lãnh đạo ABBank, việc chưa hoàn thành mục tiêu lợi nhuận do Đại hội đồng cổ đông thông qua chủ yếu đến từ nguyên nhân chi phí trích lập dự phòng tăng cao, xuất phát từ sự gia tăng nợ xấu trong năm.

Những giải pháp hóa giải thách thức nợ xấu

Nêu rõ những thách thức trong việc kiểm soát nợ xấu, chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới được tổ chức, bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch Ngân hàng Quốc Dân cho biết, do nền kinh tế thế giới và trong nước đối mặt với nhiều thách thức, trong đó sự phục hồi chậm của thị trường chứng khoán, trái phiếu và bất động sản, trong khi thị trường mua bán nợ chưa phát triển như kỳ vọng. Bên cạnh đó, thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nghiêm trọng, góp phần làm gia tăng nợ xấu.

“Đặc biệt, việc Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực, trong khi Luật Các tổ chức tín dụng 2024 không quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm, đã khiến công tác thu hồi và xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc" - lãnh đạo NCB nhấn mạnh.

Hiện NCB đang ghi nhận tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cao nhất trong hệ thống ngân hàng, bởi khi một khoản nợ chuyển sang quá hạn, ngân hàng buộc phải ngay lập tức dừng ghi nhận lãi dự thu và chuyển khoản vay ra theo dõi ngoại bảng. Vì vậy, công tác thu hồi và xử lý tài sản tồn đọng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của ngân hàng.

Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về đề án cơ cấu lại, NCB triển khai một loạt giải pháp quan trọng. Trong đó, ngân hàng thực hiện thoái lãi, trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ có vấn đề và xử lý các khoản tồn tại cũ, chủ yếu phát sinh trước năm 2021 khiến lợi nhuận năm 2024 ghi nhận mức âm.

Nhờ tiếp tục tập trung mạnh vào công tác thu hồi nợ xấu, tính đến nay, tổng số nợ gốc đã xử lý và thu hồi, bao gồm cả việc chuyển đổi tài sản tồn đọng thành tài sản có sinh lời của NCB đạt 26.287 tỷ đồng, tương đương gần 50% dư nợ tín dụng cũ.

Chất lượng tín dụng của NCB cải thiện đáng kể, khi nợ xấu phát sinh từ các khoản vay mới giải ngân chỉ chiếm 0,83% tổng danh mục nợ xấu hiện tại.

Trước thực tế tỷ lệ nợ xấu, trong đó, nợ xấu nhóm 5 tăng cao cùng kỳ, năm 2025, ABBank cũng tập trung nâng cao năng lực và chất lượng đánh giá, thẩm định và phê duyệt tín dụng nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời các rủi ro, tồn tại, vi phạm pháp luật, cũng như các vi phạm quy định nội bộ trong hoạt động cấp tín dụng. Đồng thời, ABBank sẽ thường xuyên theo dõi tình trạng tài sản bảo đảm để kịp thời phát hiện những thay đổi và biến động, từ đó có những giải pháp quản lý tài sản bảo đảm và quản lý khoản vay phù hợp.

Bên cạnh đó, ngân hàng sẽ thực hiện quyết liệt các giải pháp để hạn chế tối đa việc phát sinh nợ nhóm 2 và nợ xấu. Ngoài ra, ABBank sẽ kiện toàn tổ chức, ưu tiên nguồn lực và nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát, đôn đốc, thu hồi nợ và xử lý từng khoản nợ xấu, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra trong Phương án cơ cấu lại và xử lý nợ xấu giai đoạn 2020 - 2025.

Kỳ vọng bước chuyển mình trong xử lý nợ xấu

Chia sẻ trước cổ đông về những khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 (Nghị quyết 42) của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực từ cuối năm 2023, ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng VIB nhấn mạnh, việc Nghị quyết 42 không được luật hóa đang ảnh hưởng rất lớn đến các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng hoạt động thực chất.

Theo đó, các ngân hàng thực hiện tái cơ cấu cho các doanh nghiệp lớn thường có lợi thế, nhưng đối với các ngân hàng có tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân cao lại gặp khó, vì phải trích lập dự phòng toàn bộ.

"Việc không được luật hóa Nghị quyết 42 khiến công tác thu hồi nợ trở nên rất khó khăn. Trong các cuộc họp giữa Chính phủ và các ngân hàng thương mại, chúng tôi đã nêu rõ vấn đề này và đề nghị Quốc hội, Chính phủ cùng Ngân hàng Nhà nước tìm cách giải quyết. Chúng tôi hy vọng rằng Nghị quyết 42 sẽ sớm được thông qua, điều này sẽ mang lại lợi ích lớn cho ngành Ngân hàng, giúp quá trình thu hồi nợ diễn ra nhanh chóng và tác động tích cực đến kết quả kinh doanh" - ông Vỹ kỳ vọng.

Năm 2025, Hiệp hội Ngân hàng cùng các ngân hàng thương mại cũng sẽ tập trung đóng góp ý kiến về nghị quyết xử lý nợ xấu, tổng hợp các vướng mắc trong quá trình thi hành án, đồng thời đề xuất luật hóa các quy định trong Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu. Hiệp hội cũng sẽ xây dựng và sớm ban hành các quy định về sổ tay hướng dẫn tái cấu trúc nợ ngoài tòa hay bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động thu hồi nợ. Với những nỗ lực và giải pháp mạnh mẽ đã và đang được triển khai, các ngân hàng kỳ vọng sẽ kéo giảm tỷ lệ nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng trong năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

(TBTCO) - 9 tháng năm 2026, ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.301,3 tỷ đồng, tăng 86,9%, hoàn thành gần 96% kế hoạch năm nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh và kiểm soát tốt chi phí. Dư nợ cho vay của ngân hàng tăng 18,2% so với đầu năm, đạt 134.592 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu vẫn được kiểm soát ở mức 0,8%.
TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

(TBTCO) - Chiều 20/10/2026, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính trị giá 50 triệu USD với DEG – Định chế tài chính đầu tư phát triển trực thuộc Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Thỏa thuận không chỉ bổ sung nguồn vốn USD trung dài hạn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn quốc tế cho TPBank, mà còn mở rộng dòng tín dụng xanh và nâng tầm hệ thống quản trị rủi ro Môi trường – Xã hội theo chuẩn mực toàn cầu.
LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,810 ▼20K 14,210 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,810 ▼20K 14,210 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,810 ▼20K 14,210 ▼20K
Trang sức 99.9 13,490 ▲340K 14,090 ▲14090K
Trang sức 99.99 13,500 ▲500K 14,100 ▲14100K
Vàng 99.9 13,000 ▼510K ▼14110K
Vàng 99.99 13,150 ▼370K ▼14120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17598 17871 18445
CAD 17899 18174 18787
CHF 30834 31211 31858
CNY 0 3829 3924
EUR 28425 28642 29715
GBP 33833 34222 35152
HKD 0 3164 3366
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14408 14994
SGD 19703 19984 20550
THB 682 745 799
USD (1,2) 25577 0 0
USD (5,10,20) 25615 0 0
USD (50,100) 25642 25656 26020
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,650 25,650 26,030
USD(1-2-5) 24,624 - -
USD(10-20) 24,624 - -
EUR 28,483 28,506 29,859
JPY 159.35 159.64 169.32
GBP 34,001 34,093 35,270
AUD 17,778 17,842 18,521
CAD 18,063 18,121 18,792
CHF 31,016 31,112 32,043
SGD 19,810 19,872 20,654
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,226 3,236 3,372
KRW 17.98 18.75 20.41
THB 732.09 741.13 793.14
NZD 14,369 14,502 14,936
SEK - 2,568 2,660
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,711 2,809
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,915.78 - 6,677.03
TWD 716.92 - 868.64
SAR - 6,769.75 7,132.24
KWD - 81,620 86,858
AED - 6,780 7,307
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,640 25,670 26,050
EUR 28,451 28,594 29,818
GBP 33,989 34,160 35,197
HKD 3,222 3,241 3,358
CHF 30,812 30,967 31,912
JPY 158.69 160.29 168.27
AUD 17,798 17,923 18,521
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 738 753 791
CAD 18,029 18,156 18,754
NZD 14,510 15,068
KRW 18.82 20.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25620 25650 26010
AUD 17772 17872 18805
CAD 18036 18136 19152
CHF 30917 30947 32536
CNY 3809.1 3834.1 3969.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28547 28577 30307
GBP 34068 34118 35881
HKD 0 3300 0
JPY 159.86 160.36 170.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14510 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19828 19958 20691
THB 0 713.5 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,545 25,665 25,950
USD20 25,515 25,665 25,950
USD1 25,495 25,665 25,950
AUD 17,697 17,876 19,029
EUR 28,399 28,499 30,157
CAD 18,006 18,106 19,414
SGD 19,928 20,078 20,635
JPY 160.8 162.3 167.85
GBP 34,009 34,159 35,228
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,790 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/10/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30