So kè tăng trưởng tín dụng tại hai "đầu tàu" kinh tế cuối năm

Dư nợ tín dụng tại hai "đầu tàu" kinh tế cả nước tính đến cuối tháng 11/2024 đạt khoảng 8,1 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 53% dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng tín dụng tại Hà Nội (18,38%) đang tăng nhanh hơn đáng kế TP. Hồ Chí Minh (12,4%); trong khi Hà Nội đang dư dả vốn để cho vay thêm thì TP. Hồ Chí Minh đang cho vay sít sao vốn huy động.
aa
Nhận diện thế khó cho tăng trưởng tín dụng cuối năm Tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng cải thiện rõ rệt so với năm ngoái 5 ngân hàng có thể được nới room cuối năm, tăng trưởng tín dụng trên 20%

Thông tin từ Cục Thống kê Hà Nội cho thấy, ước đến cuối tháng 11/2024, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố ước tính đạt 5,68 triệu tỷ đồng, tăng 0,52% so với cuối tháng trước và tăng 6,39% so với thời điểm kết thúc năm 2023. Trong đó, tiền gửi đạt hơn 5 triệu tỷ đồng, tăng 0,58% và tăng 7,53%; phát hành giấy tờ có giá đạt 655 nghìn tỷ đồng, tăng 0,04% và giảm 1,61%.

Hà Nội dư dả vốn

Về tình hình thực hiện lãi suất, trong 11 tháng năm 2024, các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện nghiêm quy định về lãi suất do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định, lãi suất huy động tương đối ổn định, mặt bằng lãi suất huy động ở mức thấp.

Cụ thể, thời điểm tháng 11 lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước phổ biến ở mức 0,1 - 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 1,6 - 4,75%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 2 - 5,6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 4,5 - 6,3%/năm.

So kè tăng trưởng tín dụng tại hai
So kè tăng trưởng tín dụng hai "đầu tàu" kinh tế cuối năm.

Lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước với các khoản vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,7 - 9,1%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao bình quân khoảng 3,8%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm).

Về hoạt động tín dụng, ước đến cuối tháng 11, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hà Nội đạt 4,28 triệu tỷ đồng, tăng 0,79% so với cuối tháng trước và tăng 18,38% so với thời điểm kết thúc năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 1,87 triệu tỷ đồng, tăng 0,93% và tăng 24,44%; dư nợ trung hạn và dài hạn đạt 2,41 triệu tỷ đồng, tăng 0,68% và tăng 14,07%.

Các ngân hàng thương mại trên địa bàn tiếp tục tiết giảm chi phí, thực hiện chính sách giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Theo quan sát, dẫu tăng trưởng tín dụng tại Hà Nội tăng mạnh 18,38% so với cuối năm 2023, song vẫn dư dả vốn cho vay khi chênh lệch tổng nguồn vốn huy động (5,68 triệu tỷ đồng) và cho vay (4,28 triệu tỷ đồng) ở mức cao.

Về dư nợ cho vay theo chương trình tín dụng trên địa bàn thành phố, theo Cục Thống kê Hà Nội, cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 18,89% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế; cho vay theo chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp chiếm 13,68%.

Bên cạnh đó, chương trình nông nghiệp, nông thôn chiếm 8,93%; cho vay xuất khẩu chiếm 5,13%; cho vay công nghiệp hỗ trợ chiếm 2,31%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 0,35%, cho vay chính sách xã hội chiếm 0,43%, cho vay chứng khoán chiếm 0,53%.

"Tính đến cuối tháng 11, tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng chiếm 1,72% trong tổng dư nợ. Tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đảm bảo" - Cục Thống kê Hà Nội thông tin.

Tăng trưởng huy động và tín dụng đồng tốc tại TP. Hồ Chí Minh

Tại "đầu tàu" TP. Hồ Chí Minh, thông tin từ Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh cho thấy, các ngân hàng tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn thành phố thông qua cơ cấu lại thời gian trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn.

Về huy động vốn, ước tính đến ngày 30/11, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tăng 13% và dư nợ tăng 12,4% so với cùng kỳ. Tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố ước tính đến ngày 30/11 đạt 3,87 triệu tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ.

Trong đó, vốn huy động bằng VND ước đạt 3,48 triệu tỷ đồng, chiếm 89,7% tổng vốn huy động, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 10,3% so với cùng kỳ. Vốn huy động bằng ngoại tệ ước đạt 398,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,3% tổng vốn huy động, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 43,7% so với cùng kỳ.

So kè tăng trưởng tín dụng tại hai
Tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh cuối tháng 11 đạt 3,87 triệu tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ.

Tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh ước tính đến ngày 30/11 đạt 3,83 triệu tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 12,4% so cùng kỳ.

Trong đó, tổng dư nợ tín dụng phân theo loại tiền tệ như sau: dư nợ tín dụng bằng VND ước đạt 3,68 triệu tỷ đồng, chiếm 96,2% tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ. Dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ ước đạt 145 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,8%, tăng 1,1% so với tháng trước và giảm 7,4% so với cùng kỳ.

Cũng theo Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, tổng dư nợ tín dụng phân theo kỳ hạn tín dụng như sau: dư nợ ngắn hạn ước đạt 1,8 triệu tỷ đồng, chiếm 47,1% tổng dư nợ tín dụng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ. Dư nợ trung hạn, dài hạn ước đạt 2 triệu tỷ đồng, chiếm 52,9% tổng dư nợ, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 11,9% cùng kỳ.

Theo quan sát, tốc độ huy động vốn (13%) tại TP. Hồ Chí Minh tương đương tăng trưởng dư nợ tín dụng (12,4%) song khác với Hà Nội, chênh lệch tổng vốn huy động (3,87 triệu tỷ đồng) và cho vay (3,83 triệu tỷ đồng) ở mức khá sít sao./.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 11, tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt khoảng 15,3 triệu tỷ đồng, tăng 11,9% so với cuối năm 2023. Dư nợ tín dụng tại hai "đầu tàu" kinh tế cả nước đạt khoảng 8,1 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 53% dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Shinhan Bank lãi trước thuế 2.589,8 tỷ đồng, với nhiều nguồn thu cốt lõi tăng trưởng; dư nợ cho vay khách hàng tăng 6,2%, đạt 167.638 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn được duy trì tích cực với CAR ở mức 20,7% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,55%.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,600
Hà Nội - PNJ 143,200 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,600
Miền Tây - PNJ 143,200 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 09/09/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18200 18475 19054
CAD 18273 18549 19170
CHF 31356 31735 32375
CNY 0 3829 3925
EUR 29533 29754 30837
GBP 34334 34725 35666
HKD 0 3182 3385
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14864 15451
SGD 19978 20260 20831
THB 704 767 821
USD (1,2) 25714 0 0
USD (5,10,20) 25753 0 0
USD (50,100) 25781 25795 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,556 29,580 30,985
JPY 163.9 164.2 174.14
GBP 34,487 34,580 35,777
AUD 18,376 18,442 19,141
CAD 18,460 18,519 19,201
CHF 31,587 31,685 32,619
SGD 20,081 20,143 20,934
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 751.43 760.71 814.53
NZD 14,837 14,975 15,420
SEK - 2,654 2,748
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,755 2,856
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,972.09 - 6,745.09
TWD 743.37 - 900.65
SAR - 6,796.45 7,159.27
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,632 29,751 30,944
GBP 34,534 34,673 35,704
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,559 31,686 32,611
JPY 164.77 165.43 173.41
AUD 18,387 18,461 19,058
SGD 20,172 20,253 20,850
THB 769 772 809
CAD 18,495 18,569 19,165
NZD 14,973 15,516
KRW 18.46 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 18377 18477 19402
CAD 18468 18568 19582
CHF 31607 31637 33211
CNY 3810.3 3835.3 3970.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29714 29744 31469
GBP 34638 34688 36440
HKD 0 3330 0
JPY 165.27 165.77 176.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14977 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20140 20270 20991
THB 0 733.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 09/09/2026 06:30
Ngân hàng