Tăng dự trữ dầu thô: “Lá chắn” an ninh năng lượng

Hà My
(TBTCO) - TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, việc mở rộng dự trữ dầu thô không chỉ là yêu cầu cấp bách để bảo đảm an ninh năng lượng, mà còn là “lá chắn” giúp nền kinh tế tăng khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu.
aa

PV: Mức dự trữ dầu thô chiến lược của Việt Nam hiện là 20 - 25 ngày và theo lộ trình, sẽ được mở rộng lên 75 - 80 ngày vào năm 2030. Ông đánh giá thế nào về mức dự trữ này của Việt Nam?

Tăng dự trữ dầu thô: “Lá chắn” an ninh năng lượng
TS. Nguyễn Sơn

TS. Nguyễn Sơn: Nhìn lại lịch sử, các cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu mỏ hiếm khi kết thúc nhanh. Ví dụ, lệnh cấm vận Arab năm 1973 kéo dài 5 tháng, khủng hoảng Iran năm 1979 gây gián đoạn liên tục hơn 12 tháng...

Vì vậy, nhiều quốc gia đã thiết kế mức dự trữ ở ngưỡng cao để ứng phó với các kịch bản gián đoạn dài. Nhật Bản duy trì dự trữ tới 254 ngày, Hàn Quốc là 208 ngày, Trung Quốc hơn 120 ngày, trong khi tiêu chuẩn tối thiểu của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đối với các thành viên là 90 ngày.

Nhật Bản thiết kế mức dự trữ 254 ngày là dựa trên bài học năm 1973 và tính toán kịch bản gián đoạn kéo dài 6 tháng. Khi dự trữ cạn kiệt, nhà máy lọc dầu phải giảm công suất dẫn đến nguồn cung xăng dầu nội địa thiếu hụt, chi phí logistics tăng đột biến, sản xuất đình trệ và xuất khẩu mất sức cạnh tranh… là những tác động rất tiêu cực và toàn diện đã được chỉ ra.

So với các mức này, có thể thấy, mức dự trữ chiến lược của Việt Nam là rất hạn chế, là “vùng nguy hiểm” trong bối cảnh xung đột hiện tại. Kế hoạch mở rộng lên 75 - 80 ngày đến năm 2030 cần được đẩy nhanh thành ưu tiên cấp bách.

PV: Theo ông,Việt Nam cần làm gì để đẩy nhanh kế hoạch mở rộng mức dự trữ dầu thô chiến lược lên 75 - 80 ngày?

TS. Nguyễn Sơn: Nếu khủng hoảng nguồn cung dầu mỏ kéo dài, mục tiêu phát triển của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Trong khi tác động của một sự kiện gián đoạn như vậy, nhưng được phòng ngừa, có thể bù đắp chi phí dự trữ của nhiều năm, bao gồm chi phí vốn, lưu kho và bảo dưỡng chất lượng. Mục tiêu nâng mức dự trữ dầu thô chiến lược của Việt Nam lên 75 - 80 ngày đến năm 2030 cần được nâng thành ưu tiên ngân sách quốc gia thực chất, chứ không chỉ như một định hướng kế hoạch.

Nhìn sang các nền kinh tế cũng phụ thuộc vào xuất khẩu như Trung Quốc, họ phê duyệt chương trình dự trữ quốc gia năm 2003, hoàn thành giai đoạn 1 năm 2008, giai đoạn 2 năm 2011, đạt hơn 120 ngày dự trữ vào năm 2025. Chiến lược của Trung Quốc cũng rất linh hoạt, khi họ tận dụng giai đoạn giá dầu thấp để tối ưu chi phí thu mua, một bộ đệm để giảm chi phí năng lượng quốc gia mà vẫn đảm bảo an ninh năng lượng.

Cơ chế của Ấn Độ cũng cho thấy sự sáng tạo. Họ sử dụng mô hình cho thuê kho bãi, nghĩa là doanh nghiệp ngoại thuê sức chứa đổi lấy quyền tiếp cận thị trường, trong khi phía Ấn Độ giữ quyền giải phóng trong trường hợp khẩn cấp.

Việt Nam cũng có thể hướng đến cơ chế chia sẻ dự trữ khu vực trong khuôn khổ ASEAN+3 theo hình thức đóng góp tập thể, phù hợp với bối cảnh các quốc gia ngoài IEA.

Cuối cùng, chúng ta cũng cần nhìn nhận, dự trữ chiến lược không chỉ là bộ đệm an ninh năng lượng, mà còn là tài sản ngoại giao. Một số quốc gia có thể kiên nhẫn hơn trên bàn đàm phán quyền thông hành qua Hormuz với Iran trong tháng 3/2026 một phần vì họ không bị áp lực cạn kiệt nguồn cung ngay lập tức. Về nguyên tắc quản trị dài hạn, cần áp dụng quy tắc hạn chế phụ thuộc.

Tăng dự trữ dầu thô: “Lá chắn” an ninh năng lượng
Việc mở rộng dự trữ dầu thô là yêu cầu cấp bách để bảo đảm an ninh năng lượng.
Ảnh: Đức Thanh

PV: Về dài hạn, đâu là giải pháp then chốt để nâng cao tính tự chủ năng lượng, giảm phụ thuộc nhập khẩu, thưa ông?

TS. Nguyễn Sơn: Về tự chủ năng lượng trong dài hạn, chúng ta có thể xem xét gia tăng nguồn nguyên liệu sơ cấp trong nước. Việc đẩy nhanh khai thác Lô B và Cá Voi Xanh, với mục tiêu cung cấp 5,5 - 15 tỷ m³ khí/năm vào năm 2030 theo Quy hoạch năng lượng quốc gia, sẽ trực tiếp giảm phụ thuộc nhập khẩu, đồng thời tạo nguồn khí đốt trong nước ổn định cho quá trình chuyển đổi năng lượng quan trọng. Các dự án này về cơ bản đã có công nghệ và đối tác tài chính, theo tôi nút thắt chính là thủ tục pháp lý và sự phối hợp quyết đoán ở cấp nhà nước.

Về mặt lọc dầu, chúng ta nên đầu tư vào năng lực để biến các nhà máy thành đa nguồn linh hoạt. Đây không chỉ là đầu tư an ninh, mà còn là bài toán kinh tế, các nhà máy phức tạp hơn có thể đạt biên lợi nhuận lọc dầu cao hơn khi họ có thể lựa chọn linh hoạt nguyên liệu rẻ hơn. Các hình mẫu quốc gia phát triển có những nhà máy được thiết kế để vận hành với hầu hết mọi loại dầu thô, tạo ra lợi thế tối ưu hóa chi phí đồng thời với lợi thế an ninh cung ứng.

Nhà đầu tư nước ngoài sẽ “chấm điểm” dự trữ năng lượng

Theo TS. Nguyễn Sơn, ngoài tác động kinh tế trực tiếp, trong bối cảnh hiện nay, mức dự trữ chiến lược có thể trở thành tiêu chí thẩm định rủi ro trong quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất, đặc biệt với các ngành ảnh hưởng mạnh như điện tử, dệt may và da giày...

Bài học từ Nghi Sơn cần được vận dụng triệt để: các dự án nhà máy lọc dầu tương lai phải đặt nguyên tắc linh hoạt nguyên liệu làm tiêu chí thiết kế từ đầu. Cấu trúc liên doanh cần phải được quy định để đảm bảo nguyên tắc đa dạng hóa.

Quy hoạch Điện VIII sửa đổi đặt mục tiêu phát triển điện mặt trời và điện gió. Đây là những tham vọng đúng hướng và phù hợp với tiềm năng tự nhiên đặc biệt của Việt Nam. Tuy nhiên, những nút thắt như cơ chế định giá doanh thu lưu trữ điện quy mô lớn, hạ tầng lưới truyền tải trục Bắc - Nam, lưới điện thông minh và tính nhất quán chính sách là rất quan trọng để đảm bảo quá trình này.

Song song với đẩy nhanh chuyển đổi, cần tránh lặp lại các cấu trúc phụ thuộc trong chuyển đổi xanh. Khung hợp tác Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), với 15,5 tỷ USD đã cam kết cho giai đoạn 2026 - 2028 và quan hệ đối tác công nghệ với Nhật Bản, Hàn Quốc và EU là cơ hội đa dạng hóa chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo.

Điện hóa giao thông là giải pháp cấu trúc dài hạn. Việt Nam đang đi đúng hướng và cần chính sách hỗ trợ nhất quán để duy trì đà này. Điện hạt nhân, với dự án Ninh Thuận 1 và 2 đang được xem xét khởi động lại, sẽ cung cấp điện nền ổn định dài hạn. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn rõ thực tế về thời gian triển khai tối thiểu, coi đây là đầu tư cho thế hệ tiếp theo, không phải giải pháp cho thập kỷ này.

Ba cuộc khủng hoảng lớn gần đây (Covid-19, xung đột tại Ukraine và Iran, thuế đối ứng của Mỹ) đã xác nhận rằng, kỷ nguyên toàn cầu hóa ổn định, nơi tối ưu hóa chi phí là ưu tiên tuyệt đối, đã thực sự chấm dứt.

Trong thế giới đa cực và bất ổn như vậy, chi phí cho khả năng chống chịu, với mức dự trữ cao hơn, nguồn cung đa dạng hơn, nhà máy linh hoạt hơn, cần được hiểu là đầu tư chiến lược dài hạn, không phải lãng phí nguồn lực.

Lịch sử cũng đã cho thấy, mọi quốc gia nhập khẩu dầu và phát triển thành công, đều đã đầu tư sớm vào dự trữ và đa dạng hóa. Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, đều phục hồi nhanh hơn và ít tổn thương hơn trong các cú sốc tương tự. Thêm vào đó, an ninh năng lượng vững chắc không chỉ là tấm chắn phòng thủ, mà còn là lợi thế cạnh tranh trong thu hút vốn, trong bối cảnh chuỗi sản xuất toàn cầu đang tái cơ cấu, các quốc gia chứng minh được khả năng chống chịu năng lượng sẽ hấp dẫn hơn với nhà đầu tư đang tìm kiếm nơi đặt nhà máy an toàn.

Về quản trị, cần xây dựng cơ chế kiểm tra được cập nhật thường xuyên cho hệ thống năng lượng theo nhiều kịch bản địa chính trị khác nhau, kèm theo sự sẵn sàng điều chỉnh các giả định nền của chính sách, như Quy hoạch Điện VIII, khi môi trường thế giới có các thay đổi căn bản.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hà My

Đọc thêm

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Thu hút vốn dài hạn, tích lũy “nhiên liệu” để đất nước tăng tốc

Thu hút vốn dài hạn, tích lũy “nhiên liệu” để đất nước tăng tốc

(TBTCO) - Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam không chỉ cần thêm vốn, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực hấp thụ và sử dụng hiệu quả dòng vốn dài hạn. Theo ông Dương Thanh Tùng - Phó Tổng Giám đốc, Dịch vụ Tư vấn chiến lược, rủi ro và giao dịch, Deloitte Việt Nam, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế là một cơ hội để xây dựng “hệ điều hành” giúp hoàn thiện thị trường vốn, củng cố niềm tin và thu hút đúng dòng vốn cho tăng trưởng bền vững.
Giảm trừ bổ sung chi phí y tế, giáo dục: Thể hiện sự đồng hành của nhà nước với người nộp thuế

Giảm trừ bổ sung chi phí y tế, giáo dục: Thể hiện sự đồng hành của nhà nước với người nộp thuế

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, PGS.TS Lê Xuân Trường, Trưởng Khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính) cho rằng, việc cho phép giảm trừ thêm các khoản chi phí y tế và giáo dục - đào tạo là các khoản giảm trừ bổ sung ngoài phần giảm trừ đã được thiết kế trong mức giảm trừ chung cho người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế thể hiện sự đồng hành, chia sẻ của Nhà nước với người nộp thuế.
Trái phiếu xanh bước vào giai đoạn tăng tốc

Trái phiếu xanh bước vào giai đoạn tăng tốc

(TBTCO) - Theo bà Đinh Thúy Hằng - Trưởng bộ phận Trái phiếu xanh và Tài chính bền vững, FiinRatings, thị trường trái phiếu xanh Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn khởi động sang tăng tốc với tín hiệu phục hồi tích cực, song vẫn còn nhiều thách thức như quy mô nhỏ, các rào cản về tiêu chuẩn, chi phí...
Tăng “sức đề kháng” an ninh năng lượng trước biến động Trung Đông

Tăng “sức đề kháng” an ninh năng lượng trước biến động Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đặt ra những thách thức lớn đối với an ninh năng lượng của Việt Nam, từ nguồn cung đến giá cả. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam chỉ ra các “điểm yếu” mang tính cấu trúc, đồng thời đề xuất giải pháp cấp bách nhằm giảm phụ thuộc và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Trái phiếu doanh nghiệp tìm động lực cho chu kỳ mới

Trái phiếu doanh nghiệp tìm động lực cho chu kỳ mới

(TBTCO) - Theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings, dù thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã phục hồi rõ nét trong năm 2025, nhưng để bước vào chu kỳ phát triển mới, vẫn cần hoàn thiện nền tảng, đặc biệt về cơ cấu phát hành, chất lượng tín dụng và cơ sở nhà đầu tư.
Để chính sách thuế mới thúc đẩy hộ kinh doanh phát triển

Để chính sách thuế mới thúc đẩy hộ kinh doanh phát triển

(TBTCO) - TS. Phạm Nữ Mai Anh - Khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính) cho rằng, cơ quan thuế cần chú trọng hỗ trợ và đồng hành cùng các hộ kinh doanh trong thực hiện nghĩa vụ thuế, để chính sách thuế mới có thể áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.
Nỗ lực giữ nhịp xuất khẩu giữa vòng xoáy áp lực

Nỗ lực giữ nhịp xuất khẩu giữa vòng xoáy áp lực

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn, nhưng cũng có không ít cơ hội. Những con số tích cực trong những tháng đầu năm cho thấy, nền kinh tế vẫn đang giữ được “nhịp”, song theo ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), để đạt tăng trưởng 2 con số, đòi hỏi sự linh hoạt trong điều hành và sự chủ động từ phía doanh nghiệp.
Xem thêm