5 ngân hàng có thể được nới room cuối năm, tăng trưởng tín dụng trên 20%

Công ty Cổ phần Chứng Khoán Sài Gòn Hà Nội (SHS) ước tính, có 5 ngân hàng đủ điều kiện được cấp hạn mức tín dụng bổ sung lần này gồm Vietinbank, ACB, VIB, Techcombank và MSB. Việc được cấp thêm room tín dụng giúp các ngân hàng nói trên mở rộng quy mô kinh doanh, khi mà nhu cầu tín dụng thường cao thời điểm cuối năm.
aa

Trước đó, ngày 28/11, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục cấp bổ sung hạn mức tín dụng cho các ngân hàng sử dụng từ 80% hạn mức được cấp. Đây là lần cấp hạn mức tín dụng bổ sung thứ 2 trong năm 2024 (lần 1 vào tháng 8/2024) với quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%.

Nới room - giải tỏa "cơn khát" và chưa có “khe cửa” cho kênh đầu cơ Ngân hàng Nhà nước nới “room” tín dụng cho một số ngân hàng Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới room tín dụng cho các ngân hàng Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới 'room' tín dụng, giá vàng và tỷ giá cùng giảm

Có ngân hàng được nới room thêm 3,2%

Theo dự đoán của SHS, có 5 ngân hàng đủ điều kiện được cấp hạn mức tín dụng bổ sung lần này gồm Vietinbank, ACB, VIB, Techcombank và MSB, từ đó, có thể đưa tăng trưởng tín dụng của ba ngân hàng lên vượt mức trên 20%, đó là ACB, VIB và Techcombank.

VIB được nới room lớn nhất, dự tính bổ sung thêm 3,2% giai đoạn cuối năm, đưa mức tăng trưởng tín dụng cả năm lên 21,6%. Cùng với đó, ACB, Techcombank và MSB được nới room thêm lần lượt 2,29%; 1,5% và 1,97%.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietinbank là ngân hàng duy nhất được dự đoán được cấp hạn mức tín dụng bổ sung lần này thêm khoảng 2%.

Công ty Cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cũng cùng dự đoán hạn mức tín dụng được cấp mới của ACB khoảng 20%.

Tăng trưởng tín dụng 9 tháng 2024 của ACB đạt 13,8% so với cuối năm 2023 được dẫn dắt bởi nhóm khách hàng doanh nghiệp trong khi phân khúc khách hàng cá nhân cũng có những dấu hiệu hồi phục từ quý III.

Nhờ vậy, thu nhập lãi thuần luỹ kế 9 tháng của ACB đạt gần 21 nghìn tỷ đồng, tăng 11% cùng kỳ. Thu ngoài lãi giảm 26% so với mức nền cao của năm 2023 khi thiếu vắng những khoản thu bất thường. Lợi nhuận trước thuế ghi nhận đạt 4.844 tỷ đồng trong quý III, luỹ kế 9 tháng đạt 15.335 tỷ, tăng 2,1% cùng kỳ.

Theo KBSV, tăng trưởng tín dụng chậm lại trong quý III, chỉ tăng thêm gần 1% từ mức 12,9% cuối quý trước do ngân hàng chủ động tăng trưởng chậm lại để tái cơ cấu danh mục, đồng thời tập trung vào việc xử lý nợ xấu. Tăng trưởng tín dụng 9 tháng tương đối đồng đều ở các nhóm khách hàng, trong đó, khách hàng bán lẻ tăng 12% cuối năm 2023, khách hàng bán buôn tăng 15% cuối năm 2023.

Giới phân tích cho rằng ACB là một trong những ngân hàng có tín dụng tăng trưởng tương đối bền vững, giải ngân đều trong các tháng hơn là tập trung dồn vào cuối các quý. KBSV cho rằng từ quý 4, ACB sẽ quay trở lại đà tăng trưởng như hai quý đầu năm do hai lý do.

Một là, giải ngân khách hàng cá nhân hồi phục ở mảng cho vay kinh doanh và vay mua nhà. Hai là, ACB đa dạng hoá cho vay sang nhóm khách hàng doanh nghiệp và giải ngân cho lĩnh vực bất động sản khu công nghiệp có triển vọng tiềm năng, trong khi các ngành khác như xuất khẩu, dệt may, cơ khí, logistics cũng là những ngành nghề mà ACB đang có lợi thế về cho vay.

Với chiến lược ưu tiên chất lượng tín dụng, KBSV dự phóng tăng trưởng tín dụng cả năm 2024 của ngân hàng là 18,5% (không thay đổi so với dự phóng cũ). Trong giai đoạn 2025-2027, kỳ vọng tăng trưởng tín dụng mỗi năm khoảng 15-17%, cao hơn mức tăng trưởng của toàn ngành.

5 ngân hàng có thể được nới room cuối năm, tăng trưởng tín dụng trên 20%

Còn tại Techcombank, đến hết quý III tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này đạt 17,4% so với cuối năm 2023, mức cao nhất ngành. Tính riêng quý III, tín dụng tăng 4% so với quý 2, trong đó, trong đó cho vay khách hàng, tăng 20,8% so với cuối năm 2023.

Tín dụng giải ngân cho nhóm khách hàng doanh nghiệp tăng 3% quý trước đến từ các ngành xây dựng, vật liệu xây dựng, du lịch nghỉ dưỡng, trong khi cho vay phát triển bất động sản đi ngang. Cho vay khách hàng cá nhân dấu hiệu phục hồi khi ghi nhận mức tăng mạnh hơn nhóm khách hàng doanh nghiệp, tăng 6% quý trước và được dẫn dắt chủ yếu bởi tín dụng cho vay mua nhà.

"Dự báo ngân hàng sẽ duy trì mức tăng trưởng 21% cùng kỳ cho năm 2024 và 16-18% cho giai đoạn 2025-2027" - nhóm phân tích từ KBSV dự đoán.

Nhóm ngân hàng cho vay doanh nghiệp tăng trưởng mạnh

Tính đến hết 27/11, tăng trưởng tín dụng toàn ngành ước đạt 11,5%, tổng dư nợ tín dụng tính đến hết ba quý đầu năm đạt hơn 14,8 triệu tỷ đồng, trong đó, 27 ngân hàng niêm yết chiếm 11,4 triệu tỷ đồng, tương đương 77% toàn ngành.

Trong nhóm ngân hàng tư nhân cho vay bán lẻ, VPBank tăng trưởng tín dụng 9%, tương ứng 55% hạn mức, khá thấp so với các ngân hàng thương mại khác trong nhóm.

Lý do một phần đến từ việc VPBank tiếp tục chủ động giảm dư nợ trái phiếu doanh nghiệp, 9 tháng 2024 ghi nhận giảm 47% xuống 18.442 tỷ đồng sau khi giảm 20% trong năm 2023. Trong khi đó, cho vay khách hàng hợp nhất tăng 12,2% (cùng kỳ 2023 tăng 19%).

5 ngân hàng có thể được nới room cuối năm, tăng trưởng tín dụng trên 20%
Ảnh minh họa
Thống kê từ SHS cho thấy, nhóm ngân hàng tư nhân, đặc biệt là nhóm cho vay doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn nhóm ngân hàng quốc doanh, với Techcombank, HDBank hay LPBank đều vượt hạn mức năm.

Theo NHNN, việc bổ sung hạn mức tín dụng được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đảm bảo hiệu quả trong phân bổ vốn tín dụng.

Đáng chú ý, lần điều chỉnh này là sự chủ động của NHNN, không yêu cầu các tổ chức tín dụng phải gửi đề nghị. Tuy nhiên, NHNN không công bố chi tiết các điều kiện cụ thể để quyết định mức nới room đối với từng ngân hàng mà chỉ thông báo thực hiện dựa trên tiêu chí phù hợp.

Đây không phải lần đầu NHNN áp dụng phương án nới room tín dụng chủ động. Đầu năm 2024, NHNN đã giao toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các đơn vị theo kế hoạch. Đến ngày 28/8, NHNN thông báo sẽ xem xét nới room cho những tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt từ 80% chỉ tiêu giao đầu năm. Quyết định này được thực hiện trên cơ sở điểm xếp hạng từng tổ chức./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 03/09/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 03/09/2026 06:30
Ngân hàng