Standard Chartered: Tập trung vào khu vực sẽ giúp Việt Nam phục hồi tốt sau dịch

Chí Tín
(TBTCO) - Theo báo cáo mang tên “Những thách thức và cơ hội cho Việt Nam từ RCEP” do Ngân hàng Standard Chartered mới xuất bản gần đây, Việt Nam là một trong những quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
aa

Theo Standard Chartered, RCEP có hiệu lực từ ngày 1/1/2022 và đang tạo ra một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới, RCEP được kỳ vọng sẽ xóa bỏ tới 90% thuế quan trong vòng 20 năm giữa các thành viên.

RCEP sẽ giúp Việt Nam tăng cường vị thế thương mại và thúc đẩy quá trình phục hồi hậu đại dịch. Các mặt hàng xuất khẩu chính hưởng lợi từ RCEP bao gồm công nghệ thông tin, dệt may, da giày, nông nghiệp, ô tô và viễn thông.

Standard Chartered: Tập trung vào khu vực sẽ giúp Việt Nam phục hồi tốt sau dịch
Standard Chartered: Tập trung vào khu vực sẽ giúp Việt Nam phục hổi tốt sau dịch. Ảnh: T.L

Trong dài hạn, hiệp định này sẽ tạo ra nền tảng để tạo dựng một chuỗi cung ứng mới trong khu vực, trong đó vai trò của Việt Nam là hết sức quan trọng. Việt Nam đặt mục tiêu đạt mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm ở mức 6-7% trong thời gian từ 2021-2030.

Ông Tim Leelahaphan, chuyên gia kinh tế phụ trách Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered cho biết, RECP sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu và tiếp cận tốt hơn với các thị trường tiêu dùng lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Indonesia. Hiệp định này sẽ giúp các nhà sản xuất tại Việt Nam giảm thiểu chi phí và tiếp cận chuỗi cung ứng trên khắp khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Phần lớn nguyên liệu thô phục vụ cho xuất khẩu của Việt Nam được nhập từ các nước tham gia RCEP.

“Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn chiếm 98% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam và đóng góp 40% vào GDP, sẽ hưởng lợi khi RCEP mang đến các cơ hội giúp các doanh nghiệp phát triển lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi cung ứng”, ông Tim Leelahaphan nói.

Tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều sự cạnh tranh hơn, ở cả trong nước lẫn tại các thị trường xuất khẩu, khi là thành viên của RCEP. Đối với lĩnh vực xuất khẩu, RCEP sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh từ các nước Đông Nam Á, trong đó, một số nước có thể mạnh về các sản phẩm tương tự như Việt Nam (ví dụ như các sản phẩm sử dụng nhiều lao động).

Điều này sẽ thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi sang sản xuất ứng dụng công nghệ cao. RCEP sẽ thúc đẩy quá trình này khi Việt Nam có thể mua các nguyên vật liệu chất lượng cao từ các nước thành viên một cách dễ dàng hơn và tiếp cận tốt hơn với các thị trường để cung cấp các loại hàng hóa có giá trị gia tăng cao.

Nhìn rộng hơn thì RCEP sẽ thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của Trung Quốc với phần còn lại của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại không phải một thành viên của RCEP. Việt Nam sẽ tiếp tục được hưởng lợi với vai trò là cơ sở sản xuất thay thế khi các doanh nghiệp áp dụng chiến lược Trung Quốc + 1. Tuy nhiên, các sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc cũng sẽ có thể tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường Việt Nam, mang đến những thách thức cho các doanh nghiệp nội địa.

Các chuyên gia của Standard Chartered dự báo thặng dư cán cân vãng lai và nguồn vốn FDI sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng hỗ trợ cho Việt Nam đồng (VND) trong dài hạn. RCEP sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam, hỗ trợ cán cân vãng lai và thu hút thêm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

“Tổng cán cân vãng lai và vốn đầu tư trực tiếp ròng vào Việt Nam đạt mức trung bình hàng năm 19 tỷ USD trong 9 năm qua. Với kết quả này, chúng tôi kỳ vọng VND sẽ tiếp tục tăng giá trong những năm tới. Chúng tôi dự báo tỷ giá USD-VND sẽ đạt 22.500 vào cuối năm 2022 và 22.000 và cuối năm 2023”, ông Divya Devesh, Trưởng nhóm nghiên cứu ngoại hối khu vực ASEAN và Nam Á, Ngân hàng Standard Chartered chia sẻ./.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/3): Đồng USD chững nhịp nhưng vẫn neo cao, nhiều đồng tiền khác suy yếu

Tỷ giá USD hôm nay (27/3): Đồng USD chững nhịp nhưng vẫn neo cao, nhiều đồng tiền khác suy yếu

(TBTCO) - Sáng ngày 27/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.100 VND/USD, giảm 2 đồng so với phiên trước đó. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) biến động hẹp, giảm nhẹ 0,06% hiện ở mức 99,87 điểm.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Kim TT/AVPL 16,770 ▼90K 17,070 ▼90K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Nguyên Liệu 99.99 15,850 ▲50K 16,050 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,800 ▲50K 16,000 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▲50K 17,000 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▲50K 16,950 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▲50K 16,930 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Hà Nội - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Miền Tây - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Tây Nguyên - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,600 ▼900K 170,600 ▼900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,250 ▼40K 16,950 ▼40K
Trang sức 99.99 16,260 ▼40K 16,960 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,676 ▼9K 17,062 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,676 ▼9K 17,063 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,674 ▼9K 1,704 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,674 ▼9K 1,705 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,654 ▼9K 1,689 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,728 ▼891K 167,228 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,938 ▼675K 126,838 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,113 ▼613K 115,013 ▼613K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,289 ▼549K 103,189 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,729 ▼524K 98,629 ▼524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,688 ▼376K 70,588 ▼376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Cập nhật: 27/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17652 17925 18501
CAD 18477 18754 19373
CHF 32458 32842 33490
CNY 0 3470 3830
EUR 29761 30033 31061
GBP 34330 34721 35658
HKD 0 3233 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14889 15479
SGD 19948 20230 20756
THB 717 780 833
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,968 29,992 31,235
JPY 161.1 161.39 170.1
GBP 34,614 34,708 35,697
AUD 17,857 17,922 18,486
CAD 18,724 18,784 19,359
CHF 32,838 32,940 33,695
SGD 20,127 20,190 20,862
CNY - 3,788 3,876
HKD 3,308 3,318 3,435
KRW 16.17 16.86 18.22
THB 765.3 774.75 824.37
NZD 14,898 15,036 15,386
SEK - 2,753 2,834
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,681 2,759
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,164.32 - 6,917.89
TWD 745.62 - 897.71
SAR - 6,924.73 7,249.09
KWD - 83,878 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17813 17913 18838
CAD 18658 18758 19774
CHF 32700 32730 34317
CNY 3749.5 3774.5 3909.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29931 29961 31686
GBP 34622 34672 36432
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14994 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20105 20235 20959
THB 0 745.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16760000 16760000 17060000
SBJ 15000000 15000000 17060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,355
USD20 26,168 26,218 26,355
USD1 23,845 26,218 26,355
AUD 17,826 17,926 19,043
EUR 30,081 30,081 31,508
CAD 18,611 18,711 20,029
SGD 20,187 20,337 21,307
JPY 162.03 163.53 168.18
GBP 34,530 34,880 36,008
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,660 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80