Sức nóng tỷ giá USD/VND trước áp lực cuộc chiến thuế quan

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau khi tỷ giá USD/VND bật tăng mạnh tuần qua, nhà điều hành mở lại kênh hút tiền qua tín phiếu và điều chỉnh giá bán USD tại sở giao dịch sau thời gian dài đi ngang. Giới phân tích cho rằng, diễn biến tỷ giá cần được theo dõi chặt chẽ trong nửa đầu năm 2025, bởi "ẩn số" thuế quan có thể sẽ tiếp tục đẩy tỷ giá USD/VND lên cao.
aa
Giá USD ngân hàng chạm mốc 25.700 đồng, lập đỉnh lịch sử Nhận diện ba nhân tố khiến áp lực tỷ giá vẫn khó nguôi Dự báo tỷ giá khó bình lặng năm 2025 Tỷ giá - ngắn hạn còn ẩn số khó lường

Trong báo cáo triển vọng kinh tế vĩ mô tháng 2/2025 vừa được Công ty Cổ phần Chứng khoán Tiên Phong (TPS) công bố, nhóm phân tích đánh giá, thị trường tài chính đang trong bối cảnh tỷ giá USD/VND đang có xu hướng tăng mạnh từ cuối năm 2024. Dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục chịu áp lực tăng trong năm 2025, có thể lên đến mức 26.000 VND/USD vào cuối năm, phản ánh sự biến động mạnh mẽ từ các yếu tố bên ngoài.

Thêm áp lực từ "ẩn số" thuế quan

Tỷ giá hiện đang ở mức cao nhất trong nhiều tháng qua, với tỷ giá trung tâm Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ngày 17/2 đạt mức 24.577 VND/USD, tăng 15 đồng. Tỷ giá USD của các ngân hàng thương mại có lúc lên 25.740 VND/USD (ngày 12/2).

Theo nhóm phân tích TPS, một trong những tác động lớn đến tỷ giá USD/VND là tình hình lạm phát tại Mỹ. Lạm phát tăng lên 3% trong tháng 1/2025, gây khó khăn cho kế hoạch cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Việc hạn chế tiến trình giảm lãi suất của Fed trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ vẫn ổn định và thị trường lao động vững vàng, đã giữ cho đồng USD mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, các chính sách thuế quan và cắt giảm thuế của Mỹ, đặc biệt là dưới thời Tổng thống Donald Trump cũng gây ra sự không chắc chắn trong thương mại quốc tế. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ thương mại giữa Mỹ và các quốc gia khác mà còn làm gia tăng áp lực lên các đồng tiền quốc gia, bao gồm cả đồng Việt Nam (VND). Chính sách thuế quan có thể sẽ tiếp tục đẩy tỷ giá USD/VND lên cao, vì dòng tiền quốc tế tiếp tục đổ vào USD như một kênh đầu tư an toàn.

Tỷ giá trước "ẩn số" thuế quan
Cuộc chiến thương mại kéo dài sẽ làm chậm lộ trình giảm lãi suất của Fed. Ảnh minh hoạ.

"Trong bối cảnh này, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá trung tâm và tăng trần tỷ giá USD bán ra. Việc tăng trần tỷ giá USD cho phép NHNN có thêm công cụ để can thiệp vào thị trường sau này khi cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh dự trữ ngoại hối có thể bị ảnh hưởng" - nhóm phân tích TPS nhận định.

Tỷ giá lên 26.000 VND/USD là tích cực

“Việc tỷ giá tăng mạnh đầu năm còn gây bất ngờ với giới đầu tư khiến cho phản ứng của thị trường có phần thái quá trong các phiên ngày 12/02/2025, tuy nhiên dựa trên định hướng thúc đẩy kinh tế mạnh mẽ trong năm nay của Chính phủ và tình hình bất ổn về chính trị thương mại thế giới, kịch bản tỷ giá USD/VND giới hạn tới 26.000 đồng/USD là một kịch bản tích cực” - nhóm phân tích nhận định.

Cùng chung quan điểm, nhóm phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Mirae Asset (Việt Nam) cho rằng, diễn biến tỷ giá cần được theo dõi chặt chẽ trong nửa đầu năm 2025, do lộ trình cắt giảm lãi suất của Fed đối mặt với những trở ngại từ áp lực lạm phát của thương chiến, đặc biệt trong bối cảnh CPI cơ bản của Mỹ ổn định ở mức 3,2 - 3,3% so với cùng kỳ năm trước, do áp lực dai dẳng từ lĩnh vực dịch vụ.

Trong khi thị trường kỳ vọng Fed sẽ có hai đợt cắt giảm lãi suất trong năm nay, chi tiêu hộ gia đình mạnh mẽ, việc làm ổn định và tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp bền vững cho thấy các yếu tố bất định vẫn đang tiếp diễn, tạo tiền đề cho một giai đoạn thận trọng của Fed thông qua sự phụ thuộc vào dữ liệu.

Cũng theo Mirae Asset, thương mại toàn cầu leo thang căng thẳng khi Tổng thống Trump áp thuế 25% lên hàng hóa Mexico, Canada và đồng thời áp thêm 10% đối với các mặt hàng từ Trung Quốc có tổng trị giá 525 tỷ USD. Phản ứng của Trung Quốc bao gồm đệ đơn lên WTO cùng biện pháp trả đũa nhắm vào than đá, LNG và các khoáng sản chiến lược như: vonfram, telua - những mặt hàng then chốt cho công nghệ cao của Mỹ.

Phân tích kỹ về tác động của các chính sách thuế quan lên các quốc gia, theo nhóm phân tích, tác động thực tế của cuộc chiến tranh thương mại này sẽ vượt ra ngoài phạm vi thương mại quốc tế, vì tất cả các bên đều sẽ chịu ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau.

Việt Nam với mức thâm hụt thương mại lên đến 123 tỷ USD với Mỹ vào năm 2024, có thể sẽ chưa ghi nhận bất kỳ tác động trực tiếp nhờ vào chiến lược “Trung Quốc +1" của các doanh nghiệp FDI.

Các ước tính cho thấy thương chiến kéo dài có thể làm giảm 0,6 điểm phần trăm GDP Trung Quốc và đẩy lạm phát cơ bản tại Mỹ tăng thêm 0,8 điểm phần trăm, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến lộ trình giảm lãi suất của Fed, bối cảnh tỷ giá và môi trường lãi suất tại Việt Nam.

Đối với Mỹ, Economist Intelligence Unit ước tính việc tăng thuế 20 điểm phần trăm đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ có thể làm giảm GDP của Trung Quốc khoảng 0,6 điểm phần trăm từ năm 2025-2027, trong khi Fed chi nhánh Boston ước tính rằng việc kết hợp thuế quan đối với Canada, Mexico và Trung Quốc có thể dẫn đến lạm phát PCE cơ bản tăng 0,8 điểm phần trăm.

"Do đó, một cuộc chiến thương mại kéo dài sẽ góp phần làm gia tăng áp lực lạm phát đối với hoạt động tiêu dùng nội địa của Mỹ, làm chậm lộ trình giảm lãi suất của Fed; qua đó tác động gián tiếp đến tỷ giá và môi trường lãi suất của Việt Nam" - Mirae Asset nhìn nhận.

Ứng phó với áp lực tỷ giá

Nhìn lại diễn biến trên thị trường ngoại tệ tuần qua, trong tuần từ 10/2 - 14/2, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng ở hầu hết các phiên. Chốt ngày 14/2, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 24.562 VND/USD, tăng 100 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Kể từ ngày 11/2 NHNN quay trở lại niêm yết tỷ giá mua giao ngay cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn và tỷ giá bán giao ngay thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần (sau thời gian dài niêm yết đi ngang lần lượt ở mức 23.400 và 25.450 VND/USD). Kết thúc tuần, tỷ giá mua giao ngay của NHNN ở mức 23.384 VND/USD và tỷ giá bán giao ngay ở mức 25.740 VND/USD.

Sức nóng tỷ giá USD/VND trước áp lực cuộc chiến thuế quan
Sức nóng tỷ giá USD/VND trước áp lực cuộc chiến thuế quan. Ảnh tư liệu.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất VND liên ngân hàng các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống giảm dần sau khi giật lên ở phiên ngày thứ hai. Chốt ngày 14/2, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch ở mức: qua đêm 4,02% (giảm 0,48 điểm phần trăm); 1 tuần 4,35% (giảm 0,33 điểm phần trăm); 2 tuần 4,63% (giảm 0,17 điểm phần trăm); 1 tháng 4,80% (giảm 0,10 điểm phần trăm).

Lãi suất USD liên ngân hàng giảm nhẹ ở tất cả các kỳ hạn trong tuần qua. Phiên 14/2, lãi suất USD liên ngân hàng, giao dịch tại: qua đêm 4,33% (giảm 0,04 điểm phần trăm); 1 tuần 4,40% (giảm 0,02 điểm phần trăm); 2 tuần 4,48% (giảm 0,03 điểm phần trăm) và 1 tháng 4,53% (giảm 0,05 điểm phần trăm).

Trên thị trường mở tuần qua, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu hai loại kỳ hạn 7 ngày và 14 ngày với tổng khối lượng là 109.000 tỷ đồng, lãi suất cùng giữ ở mức 4%. Có 85.633,76 tỷ trúng thầu và có 121.138,62 tỷ đồng đáo hạn trong tuần qua trên kênh cầm cố.

NHNN chào thầu tín phiếu NHNN đấu thầu lãi suất ở kỳ hạn 7 ngày. Có 19.599,6 tỷ đồng trúng thầu. Lãi suất trúng thầu giảm nhẹ ở hai phiên cuối tuần, từ mức 4% lần lượt xuống 3,97% và 3,9%. Có 16.999,8 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn trong tuần qua./.

Ngân hàng Nhà nước hút ròng trở lại 38 nghìn tỷ đồng

Tuần từ 10/2 - 14/2, NHNN hút ròng 38.104,66 tỷ đồng khỏi thị trường bằng kênh thị trường mở. Có 119.535,76 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 19.599,6 tỷ đồng tín phiếu NHNN lưu hành trên thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,750
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 14,640
Trang sức 99.99 13,950 14,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 148
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 1,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 146
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 144,554
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 9,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 89,219
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 85,277
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 61,038
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 16/07/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80