Thị trường tiền tệ tuần 9-13/12:

Tăng trưởng tín dụng “chạy nước rút”, giá vàng bật tăng mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công số liệu tăng trưởng tín dụng đến ngày 7/12 đã đạt 12,5% và với mức tăng trưởng tín dụng như hiện nay, ngành Ngân hàng có thể đảm bảo hoàn thành mục tiêu tăng trưởng của cả nền kinh tế đã đặt ra từ đầu năm. Trong khi đó, diễn biến thị trường ghi nhận sự bật tăng mạnh còn tỷ giá ít biến động.
aa
Nhận diện thế khó cho tăng trưởng tín dụng cuối năm Tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng cải thiện rõ rệt so với năm ngoái

Tín dụng "tăng tốc" tháng cuối năm

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, tăng trưởng tín dụng đến ngày 29/11 đạt 11,9%, nhưng đến ngày 7/12 đã đạt 12,5%, cao hơn cùng kỳ năm ngoái (chỉ khoảng 9%), tổng dư nợ đạt khoảng 15,3 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, huy động vốn đạt 14,8 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng huy động vốn đạt 7,36%/năm.

Như vậy, tốc độ tăng dư nợ cao hơn khá nhiều so với tốc độ huy động vốn. Điều này chứng tỏ, ngoài việc huy động vốn từ nền kinh tế của các ngân hàng thương mại, NHNN cũng phải có động tác điều chỉnh hay đúng hơn là hỗ trợ thanh khoản, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp thông qua việc hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại bằng các công cụ điều hành chính sách.

Lý giải nguyên nhân của việc tín dụng tăng nhanh hơn năm ngoái, ông Đào Minh Tú cho biết, nền kinh tế năm nay có nhiều điểm tích cực, xuất khẩu tăng nhanh, các doanh nghiệp nhìn chung đã quay lại tốc độ tăng trưởng của các năm trước. Tăng trưởng kinh tế tích cực hơn nhờ sự điều hành rất quyết liệt, đồng bộ của cả Trung ương, địa phương, của Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ, chính sách tài khóa, tiền tệ có sự kết hợp hài hòa, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, vay vốn, tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Tăng trưởng tín dụng “chạy nước rút”, giá vàng bật tăng mạnh
Tín dụng tăng mạnh trong tháng cuối năm. Ảnh: T.L

Yếu tố có tính chất quyết định trong việc tăng trưởng tín dụng năm nay cao hơn năm ngoái là sự điều hành của NHNN, các địa phương. Ngay từ đầu năm, NHNN đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, các địa phương cũng rất quyết liệt để đạt được mục tiêu này và cấp thêm room. Nếu không bị ảnh hưởng của bão số 3, thì tăng trưởng tín dụng năm nay còn có thể cao hơn.

Trong báo cáo công bố mới đây, Công ty Cổ phần chứng khoán MB (MBS) cho rằng, sự phục hồi của tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm, sẽ phần nào gây áp lực lên thanh khoản hệ thống và có thể dẫn đến việc tăng lãi suất đầu vào.

Ở chiều ngược lại, việc lạm phát ở mức thấp và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại Việt Nam. Dựa vào các yếu tố trên, MBS dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các NHTM lớn sẽ có thể nhích thêm 20 điểm cơ bản, dao động quanh mức 5,1% - 5,2% vào cuối năm 2024.

Giá vàng tăng mạnh, tỷ giá ít biến động

Thị trường kim loại quý trong tuần này biến động mạnh với những phiên tăng giảm đan xen. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 13/12/2024, giá vàng thế giới dừng tại mốc 2.680,52 USD/ounce, tăng mạnh khoảng 48 USD /ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank vàng thế giới có giá khoảng 81,347 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.598 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 82,7 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí), giảm 2,1 triệu đồng/lượng so với phiên trước.

Trong báo cáo “Triển vọng 2025” công bố hôm thứ Năm, Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho biết, thị trường vàng sẽ đối mặt với hai kịch bản rõ rệt trong năm tới khi sự bất định chi phối tâm lý nhà đầu tư. Tuy nhiên, kịch bản cơ sở của họ dự đoán giá vàng sẽ biến động tương đối trung lập nếu các điều kiện thị trường hiện tại tiếp tục duy trì. Triển vọng không chắc chắn của vàng xuất hiện khi giá đã tăng trở lại mức 2.700 USD/ounce. Kim loại quý này có khả năng kết thúc năm với mức tăng gần 30%, đây là đợt tăng mạnh nhất trong nhiều thập kỷ.

Cũng có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước biến động mạnh. Giá vàng bật tăng mạnh vào những ngày trong tuần nhưng sau đó giảm mạnh vào phiên cuối tuần. Đầu giờ sáng ngày 13/12, giá vàng miếng SJC giữ ở mức 87,1 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 84,6 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh khoảng 2 triệu đồng/lượng so với tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến sát mốc 85 triệu đồng/lượng. Thời điểm 16 giờ chiều ngày 13/12, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 84,9 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 83,8 triệu đồng/lượng.

Tăng trưởng tín dụng “chạy nước rút”, giá vàng bật tăng mạnh
Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn tăng so với cuối tuần trước. Ảnh: T.L

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 82,8 - 84,1 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 82,98 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 84,08 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã tăng khoảng 900 nghìn đồng - 1 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 9/12 ghi nhận ở mức 24.255 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó tăng nhẹ vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.259 đồng/USD, tăng 4 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng nhích tăng nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.467 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh giảm vào ngày thứ Ba rồi tăng tỷ giá vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.471 đồng/USD, tăng 4 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Các chuyên gia của Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap cho biết, đồng USD mạnh lên có thể tiếp tục gây áp lực lên tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, các chuyên viên phân tích cho rằng, một số yếu tố có thể giúp hạ nhiệt tỷ giá vào cuối năm.

Theo đó, Vietcap kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong cuộc họp tháng 12 (phù hợp với dự báo đồng thuận hiện tại của thị trường). Ngoài ra, nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam tiếp tục dồi dào từ thặng dư thương mại, dòng vốn FDI và kiều hối, đồng thời thâm hụt thương mại dịch vụ ngày càng thu hẹp.

Nhận định về xu hướng của tỷ giá, Công ty Chứng khoán MBS cho rằng, áp lực lên tỷ giá sẽ giảm trong thời gian tới nhờ vào các biện pháp can thiệp của NHNN. Tuy nhiên, quá trình này sẽ diễn ra ở mức độ khiêm tốn, vì các chính sách được tân Tổng thống Mỹ đề xuất sẽ giúp đồng USD giữ đà tăng giá và khiến gia tăng áp lực lên tỷ giá hối đoái.

Ngoài ra, áp lực lên tỷ giá được kỳ vọng sẽ giảm dần trong thời gian tới khi Fed đã bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất (kể từ tháng 9 tới nay đã giảm tổng cộng 75 điểm cơ bản), và nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì việc cắt giảm, tuy nhiên với một tốc độ chậm hơn./.

Chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh vào cuối tuần. Tại thời điểm chiều ngày 13/12, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,12 điểm, tăng hơn 2 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

(TBTCO) - Cập nhật từ các Đại hội đồng cổ đông, S&I Ratings cho biết, các ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% năm 2026, thấp hơn mức 16% của năm trước, trong bối cảnh bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới. Đáng chú ý, mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với huy động vốn, tốc độ huy động không theo kịp trở thành yếu tố kìm hãm đà tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▲250K 16,750 ▲250K
Kim TT/AVPL 16,450 ▲250K 16,750 ▲250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▲250K 16,750 ▲250K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲160K 15,450 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲160K 15,400 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲160K 16,450 ▲160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲160K 16,400 ▲160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲160K 16,380 ▲160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 ▲2600K 167,300 ▲2600K
Hà Nội - PNJ 164,300 ▲2600K 167,300 ▲2600K
Đà Nẵng - PNJ 164,300 ▲2600K 167,300 ▲2600K
Miền Tây - PNJ 164,300 ▲2600K 167,300 ▲2600K
Tây Nguyên - PNJ 164,300 ▲2600K 167,300 ▲2600K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 ▲2600K 167,300 ▲2600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 ▲250K 16,750 ▲250K
Miếng SJC Nghệ An 16,450 ▲250K 16,750 ▲250K
Miếng SJC Thái Bình 16,450 ▲250K 16,750 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 ▲200K 16,700 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 ▲200K 16,700 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 ▲200K 16,700 ▲200K
NL 99.90 14,950 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▲150K
Trang sức 99.9 15,890 ▲200K 16,590 ▲200K
Trang sức 99.99 15,900 ▲200K 16,600 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 06/05/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18498 18775 19350
CAD 18826 19104 19720
CHF 33041 33427 34072
CNY 0 3819 3911
EUR 30228 30502 31528
GBP 34926 35320 36265
HKD 0 3229 3431
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15289 15879
SGD 20131 20414 20940
THB 726 789 842
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26368
AUD 18658 18758 19683
CAD 19004 19104 20115
CHF 33273 33303 34890
CNY 3793.2 3818.2 3953.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30391 30421 32146
GBP 35218 35268 37036
HKD 0 3355 0
JPY 163.45 163.95 174.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15376 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20293 20423 21145
THB 0 756.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,210 26,366
USD20 26,160 26,210 26,366
USD1 26,160 26,210 26,366
AUD 18,550 18,650 19,758
EUR 30,469 30,469 31,880
CAD 18,925 19,025 20,336
SGD 20,317 20,467 21,031
JPY 164.43 165.93 170.51
GBP 35,009 35,359 36,226
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/05/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80