Thị trường tiền tệ tuần 9-13/12:

Tăng trưởng tín dụng “chạy nước rút”, giá vàng bật tăng mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công số liệu tăng trưởng tín dụng đến ngày 7/12 đã đạt 12,5% và với mức tăng trưởng tín dụng như hiện nay, ngành Ngân hàng có thể đảm bảo hoàn thành mục tiêu tăng trưởng của cả nền kinh tế đã đặt ra từ đầu năm. Trong khi đó, diễn biến thị trường ghi nhận sự bật tăng mạnh còn tỷ giá ít biến động.
aa
Nhận diện thế khó cho tăng trưởng tín dụng cuối năm Tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng cải thiện rõ rệt so với năm ngoái

Tín dụng "tăng tốc" tháng cuối năm

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, tăng trưởng tín dụng đến ngày 29/11 đạt 11,9%, nhưng đến ngày 7/12 đã đạt 12,5%, cao hơn cùng kỳ năm ngoái (chỉ khoảng 9%), tổng dư nợ đạt khoảng 15,3 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, huy động vốn đạt 14,8 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng huy động vốn đạt 7,36%/năm.

Như vậy, tốc độ tăng dư nợ cao hơn khá nhiều so với tốc độ huy động vốn. Điều này chứng tỏ, ngoài việc huy động vốn từ nền kinh tế của các ngân hàng thương mại, NHNN cũng phải có động tác điều chỉnh hay đúng hơn là hỗ trợ thanh khoản, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp thông qua việc hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại bằng các công cụ điều hành chính sách.

Lý giải nguyên nhân của việc tín dụng tăng nhanh hơn năm ngoái, ông Đào Minh Tú cho biết, nền kinh tế năm nay có nhiều điểm tích cực, xuất khẩu tăng nhanh, các doanh nghiệp nhìn chung đã quay lại tốc độ tăng trưởng của các năm trước. Tăng trưởng kinh tế tích cực hơn nhờ sự điều hành rất quyết liệt, đồng bộ của cả Trung ương, địa phương, của Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ, chính sách tài khóa, tiền tệ có sự kết hợp hài hòa, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, vay vốn, tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Tăng trưởng tín dụng “chạy nước rút”, giá vàng bật tăng mạnh
Tín dụng tăng mạnh trong tháng cuối năm. Ảnh: T.L

Yếu tố có tính chất quyết định trong việc tăng trưởng tín dụng năm nay cao hơn năm ngoái là sự điều hành của NHNN, các địa phương. Ngay từ đầu năm, NHNN đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, các địa phương cũng rất quyết liệt để đạt được mục tiêu này và cấp thêm room. Nếu không bị ảnh hưởng của bão số 3, thì tăng trưởng tín dụng năm nay còn có thể cao hơn.

Trong báo cáo công bố mới đây, Công ty Cổ phần chứng khoán MB (MBS) cho rằng, sự phục hồi của tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm, sẽ phần nào gây áp lực lên thanh khoản hệ thống và có thể dẫn đến việc tăng lãi suất đầu vào.

Ở chiều ngược lại, việc lạm phát ở mức thấp và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại Việt Nam. Dựa vào các yếu tố trên, MBS dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các NHTM lớn sẽ có thể nhích thêm 20 điểm cơ bản, dao động quanh mức 5,1% - 5,2% vào cuối năm 2024.

Giá vàng tăng mạnh, tỷ giá ít biến động

Thị trường kim loại quý trong tuần này biến động mạnh với những phiên tăng giảm đan xen. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 13/12/2024, giá vàng thế giới dừng tại mốc 2.680,52 USD/ounce, tăng mạnh khoảng 48 USD /ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank vàng thế giới có giá khoảng 81,347 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.598 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 82,7 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí), giảm 2,1 triệu đồng/lượng so với phiên trước.

Trong báo cáo “Triển vọng 2025” công bố hôm thứ Năm, Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho biết, thị trường vàng sẽ đối mặt với hai kịch bản rõ rệt trong năm tới khi sự bất định chi phối tâm lý nhà đầu tư. Tuy nhiên, kịch bản cơ sở của họ dự đoán giá vàng sẽ biến động tương đối trung lập nếu các điều kiện thị trường hiện tại tiếp tục duy trì. Triển vọng không chắc chắn của vàng xuất hiện khi giá đã tăng trở lại mức 2.700 USD/ounce. Kim loại quý này có khả năng kết thúc năm với mức tăng gần 30%, đây là đợt tăng mạnh nhất trong nhiều thập kỷ.

Cũng có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước biến động mạnh. Giá vàng bật tăng mạnh vào những ngày trong tuần nhưng sau đó giảm mạnh vào phiên cuối tuần. Đầu giờ sáng ngày 13/12, giá vàng miếng SJC giữ ở mức 87,1 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 84,6 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh khoảng 2 triệu đồng/lượng so với tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến sát mốc 85 triệu đồng/lượng. Thời điểm 16 giờ chiều ngày 13/12, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 84,9 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 83,8 triệu đồng/lượng.

Tăng trưởng tín dụng “chạy nước rút”, giá vàng bật tăng mạnh
Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn tăng so với cuối tuần trước. Ảnh: T.L

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 82,8 - 84,1 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 82,98 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 84,08 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã tăng khoảng 900 nghìn đồng - 1 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 9/12 ghi nhận ở mức 24.255 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó tăng nhẹ vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.259 đồng/USD, tăng 4 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng nhích tăng nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.467 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh giảm vào ngày thứ Ba rồi tăng tỷ giá vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.471 đồng/USD, tăng 4 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Các chuyên gia của Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap cho biết, đồng USD mạnh lên có thể tiếp tục gây áp lực lên tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, các chuyên viên phân tích cho rằng, một số yếu tố có thể giúp hạ nhiệt tỷ giá vào cuối năm.

Theo đó, Vietcap kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong cuộc họp tháng 12 (phù hợp với dự báo đồng thuận hiện tại của thị trường). Ngoài ra, nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam tiếp tục dồi dào từ thặng dư thương mại, dòng vốn FDI và kiều hối, đồng thời thâm hụt thương mại dịch vụ ngày càng thu hẹp.

Nhận định về xu hướng của tỷ giá, Công ty Chứng khoán MBS cho rằng, áp lực lên tỷ giá sẽ giảm trong thời gian tới nhờ vào các biện pháp can thiệp của NHNN. Tuy nhiên, quá trình này sẽ diễn ra ở mức độ khiêm tốn, vì các chính sách được tân Tổng thống Mỹ đề xuất sẽ giúp đồng USD giữ đà tăng giá và khiến gia tăng áp lực lên tỷ giá hối đoái.

Ngoài ra, áp lực lên tỷ giá được kỳ vọng sẽ giảm dần trong thời gian tới khi Fed đã bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất (kể từ tháng 9 tới nay đã giảm tổng cộng 75 điểm cơ bản), và nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì việc cắt giảm, tuy nhiên với một tốc độ chậm hơn./.

Chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh vào cuối tuần. Tại thời điểm chiều ngày 13/12, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,12 điểm, tăng hơn 2 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
Trang sức 99.9 13,180 ▲100K 13,780 ▲100K
Trang sức 99.99 13,190 ▲100K 13,790 ▲100K
Vàng 99.9 12,650 ▲100K
Vàng 99.99 12,800 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▲1K 14,002 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▲1K 14,003 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,328 ▲10K 1,368 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,328 ▲10K 1,369 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,308 ▲10K 1,358 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 127,455 ▲990K 134,455 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,221 ▲75K 10,201 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,703 ▲680K 92,503 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,196 ▲610K 82,996 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,529 ▲583K 79,329 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,984 ▲417K 56,784 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cập nhật: 02/11/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17598 17870 18455
CAD 17929 18204 18822
CHF 30626 31002 31645
CNY 0 3834 3930
EUR 28189 28405 29483
GBP 33740 34129 35064
HKD 0 3157 3360
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14191 14785
SGD 19630 19911 20481
THB 679 742 795
USD (1,2) 25536 0 0
USD (5,10,20) 25574 0 0
USD (50,100) 25601 25615 25983
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,610 25,610 25,990
USD(1-2-5) 24,586 - -
USD(10-20) 24,586 - -
EUR 28,246 28,269 29,614
JPY 159.01 159.3 168.97
GBP 33,922 34,014 35,195
AUD 17,796 17,860 18,540
CAD 18,115 18,173 18,846
CHF 30,884 30,980 31,908
SGD 19,757 19,818 20,597
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,222 3,232 3,368
KRW 17.76 18.52 20.15
THB 728.57 737.57 789.58
NZD 14,187 14,319 14,743
SEK - 2,584 2,676
DKK - 3,789 3,924
NOK - 2,753 2,852
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,930.52 - 6,696.31
TWD 714.03 - 865.15
SAR - 6,755.77 7,117.67
KWD - 81,466 86,697
AED - 6,770 7,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25570 25600 26000
AUD 17787 17887 18812
CAD 18119 18219 19230
CHF 30875 30905 32479
CNY 3817 3842 3977.3
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28349 28379 30102
GBP 34040 34090 35842
HKD 0 3300 0
JPY 159.94 160.44 170.99
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14304 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19794 19924 20646
THB 0 708.5 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30