Từ bức tranh ngân hàng đầu năm, nhận diện thách thức cuối năm

Chí Tín
(TBTCO) - Theo diễn biến kinh doanh của các ngân hàng nửa đầu năm 2023, ngân hàng phần nào cũng đã "lung lay" lợi nhuận trong bối cảnh nhiều ngành nghề kinh doanh suy giảm hoạt động. Tuy khó khăn đối với ngành Ngân hàng không quá nặng nề như bất động sản, nhưng thách thức cho các ngân hàng nửa cuối năm cũng sẽ không nhỏ.
aa
Từ bức tranh ngân hàng đầu năm, nhận diện thách thức cuối năm
Tăng trưởng tín dụng vẫn còn khá xa so với mục tiêu khoảng 14% năm 2023. Ảnh: TL

Ảnh hưởng của sụt giảm tín dụng

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến ngày 30/6/2023, tín dụng nền kinh tế đạt trên 12,49 triệu tỷ đồng, tăng 4,73% so với cuối năm 2022. Tốc độ tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm 2023 thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng trưởng 9,35% trong nửa đầu năm 2022. Tăng trưởng tín dụng thực tế 6 tháng đầu năm theo đó cũng vẫn còn khá xa so với mục tiêu khoảng 14% năm 2023.

Tăng trưởng tín dụng của toàn ngành Ngân hàng đạt thấp cũng có những lý do khách quan từ nền kinh tế, trong bối cảnh nhiều ngành nghề kinh doanh đều bị suy giảm hoạt động. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2023 tăng trưởng 4,14% (so với cùng kỳ năm trước), chỉ cao hơn tốc độ tăng 0,34% của quý II/2020 trong giai đoạn 2011-2023. GDP 6 tháng đầu năm 2023 tăng 3,72%, chỉ cao hơn tốc độ tăng 1,74% của 6 tháng đầu năm 2020 trong giai đoạn 2011-2023.

Thực trạng kinh doanh cho thấy, các doanh nghiệp đang đối diện với khá nhiều khó khăn. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu không tìm được đơn hàng nên phải thu hẹp kinh doanh. Từ đó, doanh nghiệp cũng giảm nhu cầu vay vốn hoặc doanh nghiệp suy yếu nên ngân hàng cũng “ngại” cho vay. Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, khi kinh tế khó khăn, nguồn lực của doanh nghiệp bị cạn kiệt, dẫn tới việc các doanh nghiệp không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng. Phía ngân hàng cũng không thể tự ý hạ tiêu chuẩn, giảm các quy định, điều kiện cho vay mà vẫn phải theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quản trị rủi ro, an toàn hệ thống.

Sự sụt giảm tín dụng nửa đầu năm cũng phần nào khiến cho bức tranh kinh doanh của các ngân hàng ảnh hưởng theo. Theo thống kê kết quả kinh doanh của 27 ngân hàng niêm yết, tổng lợi nhuận sau thuế lũy kế vẫn đạt hơn 103.462 tỷ đồng; giảm khoảng 1,3%. Theo phân tích của Công ty Chứng khoán VNDirect, các ngân hàng có tỷ lệ cho vay bán lẻ cao đạt mức tăng trưởng tín dụng vẫn khá tốt cho thấy dấu hiệu hồi phục nhẹ từ nhu cầu tiêu dùng.

Dự báo nửa cuối năm

Mặc dù bối cảnh kinh doanh chung nửa đầu năm của các ngân hàng có phần suy giảm nhẹ, nhưng so với nhóm ngành được coi là trụ cột khác như bất động sản thì có thể thấy khả năng duy trì lợi nhuận của ngân hàng vẫn đang tốt hơn. Phân tích về vấn đề này, ông Trần Ngọc Báu – CEO của WiGroup cho biết, nửa đầu năm 2023, các ngân hàng gặp khó khăn đối với nguồn thu từ thu nhập lãi thuần do ảnh hưởng của sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, họ đã tìm được sự bù đắp từ các nguồn khác như các hoạt động dịch vụ, kinh doanh và đầu tư chứng khoán, kinh doanh ngoại hối và vàng… Mặc dù vậy, ông Báu vẫn cho rằng, các ngân hàng cũng không thể trông đợi quá nhiều về sự bù đắp này, vì có thể nó chỉ duy trì tạm thời một thời gian và lợi nhuận ngân hàng sẽ vẫn còn lệ thuộc từ nguồn thu nhập lãi thuần.

Về bối cảnh nửa cuối năm 2023, các ngân hàng sẽ còn đối diện với khó khăn do yêu cầu chung là sẽ phải tiếp tục giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Theo đó, các ngân hàng sẽ phải tăng dần các nguồn vốn huy động dài hạn và thường vốn dài hạn sẽ phải trả lãi suất đầu vào cao hơn các khoản vốn ngắn hạn. Đây sẽ là một trong những tình trạng khó khăn mà các ngân hàng sẽ phải đối mặt trong thời gian tới.

Ông Báu cho biết, hiện nay, nguồn thu của các ngân hàng không tăng được thì việc các ngân hàng có thể làm để giữ được lợi nhuận là tiết giảm chi phí. Trong đó, 2 khoản chi phí cơ bản nhất là chi phí hoạt động và chi phí dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, việc giảm chi phí dự phòng rủi ro chỉ là vấn đề “ăn vào tương lai”, bởi lẽ ngân hàng nếu giảm trích lập dự phòng rủi ro thì chi phí đó sẽ nảy sinh trong tương lai khi các vấn đề rủi ro xảy ra.

Trong khi đó, chuyên gia phân tích của VNDirect cho biết, hiện khó đặt kỳ vọng sự cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM - Net Interest Margin) ngay lập tức khi việc cắt giảm lãi suất vẫn là ưu tiên hàng đầu để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Theo đó, trong giai đoạn nửa cuối năm, những ngân hàng có tỷ lệ cho vay cá nhân cao, rủi ro thanh khoản thấp và tỷ trọng vốn ngoại tệ trên tổng nguồn vốn thấp sẽ có nhiều cơ hội để cải thiện NIM tốt hơn so với các ngân hàng khác.

Gia tăng hiệu quả từ hoạt động ngân hàng điện tử

Một trong những yếu tố các ngân hàng có thể đặt kỳ vọng để đẩy mạnh tín dụng cá nhân và phát triển cho vay theo phương thức điện tử khi Thông tư 06/2023/TT-NHNN có hiệu lực từ tháng 9/2023. Theo đó, các ngân hàng có thể mở rộng xu hướng triển khai ứng dụng phương tiện điện tử vào quy trình cho vay, chú trọng phát triển và hoàn thiện các giải pháp công nghệ nhằm hỗ trợ/thay thế các khâu tác nghiệp thủ công.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh 43 USD/ounce lên 4.123,3 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1,4 triệu đồng/lượng.
Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

(TBTCO) - Trong bối cảnh "độ chênh" khoảng 2 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn duy trì, nhiều ngân hàng đẩy mạnh mở rộng các kênh huy động ngoài tiền gửi truyền thống. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất trên các kênh huy động đồng loạt neo ở mức cao, khiến chi phí vốn gia tăng và dư địa giảm thêm lãi suất không dễ dàng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 26/07/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/07/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80