Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để phát triển thẻ tín dụng nội địa

Mai Tấn
(TBTCO) - Với 900 hơn nghìn thẻ tín dụng nội địa trong khi quy mô dân số lên tới 100 triệu người thì đây là tiềm năng lớn để các tổ chức tín dụng có thể khai thác, đẩy mạnh phát hành thẻ tín dụng nội địa.
aa

Thanh toán không dùng tiền mặt tăng 57%

Ngày 21/5, Báo Lao Động phối hợp với Vụ Thanh toán (thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam -NHNN) và Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức hội thảo “Phát huy tiềm năng thẻ tín dụng nội địa hướng tới xã hội không tiền mặt”.

Tại hội thảo, ông Lê Anh Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước, cho biết đến hết tháng 3/2024, có 15 tổ chức phát hành thẻ tín dụng nội địa. Số lượng thẻ tín dụng nội địa đang lưu hành đến tháng 3/2024 đạt trên 904,7 nghìn thẻ (tăng 18,37% so với cùng kỳ năm 2023, cao hơn mức tăng thẻ tín dụng quốc tế là 9,53%).

Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để phát triển thẻ tín dụng nội địa
Quang cảnh hội thảo
Giao dịch thẻ tín dụng nội địa trong 3 tháng đầu năm 2024 đạt 1,3 triệu giao dịch với giá trị 10 nghìn tỷ đồng (tăng 75,43% về số lượng và 89,85% về giá trị, cao hơn mức tăng tương ứng của thẻ tín dụng quốc tế là 27,26% và 25,1%).

“Với 900 hơn nghìn thẻ tín dụng nội địa trong khi quy mô dân số lên tới 100 triệu người thì đây là tiềm năng lớn để các tổ chức tín dụng có thể khai thác, đẩy mạnh phát hành thẻ tín dụng nội địa" - ông Dũng nói.

Theo ông, cơ cấu dân số trẻ, thu nhập người dân ngày càng tăng, xu hướng thương mại điện tử, hoạt động kinh tế số thịnh hành thì thị trường thẻ tín dụng nội địa còn nhiều tiềm năng phát triển nữa. Bên cạnh tiềm năng lớn từ thị trường thẻ tín dụng, sản phẩm thẻ tín dụng nội địa còn nhiều tính năng, tiện ích, ưu đãi hấp dẫn không kém gì thẻ tín dụng quốc tế.

Theo TS. Đỗ Thị Hà Thương – Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, thẻ tín dụng nội địa được coi là sản phẩm chủ lực cho chiến lược tài chính toàn diện mà Chính phủ và NHNN theo đuổi nhằm giúp người dân, đặc biệt người dân thuộc nhóm khách hàng yếu thế tiếp cận được các kênh tín dụng chính thức và gia tăng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

Ông Nguyễn Quang Minh - Tổng giám đốc NAPAS, cho biết thẻ tín dụng nội địa có các tính năng của thẻ tín dụng thông thường (như khách hàng chi tiêu trước trả tiền sau, thời gian miễn lãi dài từ 45 đến 55 ngày...), không chỉ thanh toán rộng rãi ở các điểm chấp nhận thanh toán trong nước mà còn sử dụng thanh toán/rút tiền ở một số quốc gia.

Ngoài ra, một số tiện ích, tính năng của thẻ tín dụng nội địa có thể là điểm hấp dẫn nhóm khách hàng phổ thông hoặc lần đầu tiếp cận sản phẩm, dịch vụ ngân hàng như: thủ tục mở thẻ đơn giản, chi phí phát hành và thanh toán thấp.

Giúp người dân tiếp cận vốn nhanh

"Thẻ tín dụng nội địa còn là phương thức hiệu quả giúp người dân có thể tiếp cận nguồn vốn vay chính thức từ các ngân hàng và công ty tài chính, nhất là trong trường hợp khách hàng có phát sinh nhu cầu tài chính đột xuất thì không phải tìm đến "tín dụng đen", với lãi suất cao" - ông Nguyễn Quang Minh nói.

Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để phát triển thẻ tín dụng nội địa
Số lượng thẻ tín dụng nội địa hiện nay còn quá thấp

Tuy nhiên, Tổng giám đốc NAPAS cho biết số lượng thẻ tín dụng nội địa hiện nay còn quá thấp khi chỉ bằng 8% thẻ tín dụng quốc tế và 0,6% thẻ toàn thị trường. Doanh số thanh toán hiện nay mới chỉ đạt 0,5% - 0,9% doanh số thanh toán thẻ toàn thị trường. Doanh số này vẫn rất thấp so với tiềm năng của thẻ tín dụng nội địa.

Còn ông Nguyễn Tấn Pháp - Giám đốc Trung tâm thẻ, Khối bán lẻ, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) cho biết, việc đẩy mạnh phát triển thẻ tín dụng nội địa tại thị trường Việt Nam chưa khả quan do vẫn gặp phải một số khó khăn nhất định.

Thứ nhất, số lượng ngân hàng thương mại cổ phần tham gia phát triển thẻ tín dụng nội địa còn rất hạn chế, chỉ 15 tổ chức tín dụng, nên việc truyền thông, quảng cáo, các chương trình khuyến mại nhằm thu hút khách hàng cũng chưa được chú trọng đẩy mạnh. Do vậy, người dân vẫn chưa tiếp cận được sản phẩm và những ưu điểm của sản phẩm, dẫn đến số lượng phát hành còn khiêm tốn so với thẻ tín dụng quốc tế.

Thứ hai, khó cạnh tranh với thẻ tín dụng quốc tế về phạm vi sử dụng, tính năng quốc tế cũng như các ưu đãi hấp dẫn từ tổ chức thẻ quốc tế.

Thứ ba, do thói quen người tiêu dùng, họ có tâm lý ưa chuộng các sản phẩm thẻ quốc tế hơn vì tính phổ biến và số đông.

Theo ông Lê Anh Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước, để tiếp tục triển khai mục tiêu thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển thẻ tín dụng nội địa tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng và các đơn vị liên quan tích cực triển khai có hiệu quả Nghị định số 52/2024/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt; hoàn thiện, ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn nghị định mới tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, hỗ trợ phát triển thẻ tín dụng nội địa; triển khai tốt các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ ngân hàng, tại Quyết định 2345/QĐ-NHNN để đảm bảo an toàn, phòng ngừa gian lận, lừa đảo, tăng cường lòng tin của người dùng khi sử dụng các phương tiện điện tử.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, sản phẩm thẻ tín dụng nội địa hiện đại, tiện ích, an toàn, mở rộng hạ tầng, mạng lưới chấp nhận thanh toán; phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông nhằm tiếp cận và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng, thanh toán chính thống, góp phần phổ cập tài chính toàn diện và hạn chế tín dụng đen./.

Thời gian tới, bên cạnh những giải pháp hoàn thiện về pháp lý và hạ tầng công nghệ thúc đẩy thành toán không dùng tiền mặt và hoạt động thẻ, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng trong tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số, trong đó có các kỹ năng sử dụng thẻ ngân hàng đảm bảo an toàn, hiệu quả.
Mai Tấn

Đọc thêm

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

(TBTCO) - Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, NCB thông qua kế hoạch kinh doanh 2026, với mục tiêu dư nợ cho vay đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%; đồng thời, thông qua phương án chào bán riêng lẻ 1 tỷ cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 29.280 tỷ đồng. Lãnh đạo NCB cũng nhấn mạnh, mục tiêu hoàn thành phương án cơ cấu lại cuối năm 2027, sớm đưa NCB trở lại "đường đua" bình thường.
Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

(TBTCO) - Hàng chục ngàn lượt khách hàng sẽ được hưởng lợi từ chương trình “Lướt Shopee, săn deal Thẻ” với ưu đãi giảm giá trực tiếp lên tới 100.000 VND khi mua sắm trên Shopee và thanh toán bằng Thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,110 ▲100K 17,460 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 ▲100K 15,850 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,600 ▲100K 15,800 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▲100K 16,950 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▲100K 16,900 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▲100K 16,880 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 ▲100K 17,450 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 ▲100K 17,450 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 ▲100K 17,450 ▲150K
NL 99.90 15,670 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▲150K
Trang sức 99.9 16,640 ▲150K 17,340 ▲150K
Trang sức 99.99 16,650 ▲150K 17,350 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 171 ▲1K 17,452 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 171 ▲1K 17,453 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,708 ▲10K 1,743 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,708 ▲10K 1,744 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,688 ▲10K 1,728 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 ▲990K 171,089 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 ▲750K 129,763 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 ▲680K 117,666 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 ▲611K 105,569 ▲611K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 ▲583K 100,902 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 ▲417K 72,215 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Cập nhật: 03/04/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17648 17921 18502
CAD 18386 18663 19276
CHF 32349 32732 33367
CNY 0 3470 3830
EUR 29764 30036 31066
GBP 34044 34434 35379
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14716 15306
SGD 19945 20227 20743
THB 723 786 840
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/04/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80