VietinBank đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã hội

Hồng Minh
VietinBank chưa bao giờ có được tiềm lực tài chính, vị thế, uy tín như hiện nay. Những thành công của toàn hệ thống VietinBank cũng như những đóng góp của ngân hàng này đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn vừa qua đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận và đánh giá cao...
aa

vietinbank

Ông Lê Đức Thọ - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT VietinBank. Ảnh: TL

Trước những thách thức và yêu cầu ngày càng cao cho phát triển kinh tế - xã hội, VietinBank tự hào đã, đang khẳng định và phát huy tốt vai trò chủ lực, trụ cột của đất nước; đồng hành hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất kinh doanh; đồng thời đẩy mạnh đổi mới, cải cách, tái cấu trúc hoạt động, thực hiện thành công các kế hoạch đề ra.

Phát huy thế mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động

Năm 2020, toàn hệ thống VietinBank tự hào vượt thách thức, khẳng định và phát huy tốt vai trò ngân hàng chủ lực, trụ cột và chủ đạo trong nền kinh tế, đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn của dịch bệnh COVID-19 để khôi phục, phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống. Đồng thời, VietinBank đã đẩy mạnh đổi mới, cải cách, tái cấu trúc hoạt động, thực hiện thành công phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020, kế hoạch kinh doanh trung hạn giai đoạn 2018 - 2020, đáp ứng vốn tự có của ngân hàng theo chuẩn mực Basel II và chính thức áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN từ đầu năm 2021.

Kết quả kinh doanh của VietinBank có sự phát triển mạnh mẽ, cải thiện cơ bản về chất, hiệu quả kinh doanh được nâng cao, cơ cấu thu nhập, cơ cấu khách hàng chuyển dịch theo hướng tích cực, lợi nhuận hợp nhất lần đầu tiên đạt mức 17.085 tỷ đồng.

Để đạt được thành công trên là cả quá trình tích lũy, tích tụ, nỗ lực của toàn hệ thống; là kết quả của quá trình tái cấu trúc, chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với hiệu quả thực chất; làm tốt công tác quản lý cân đối vốn; nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh vốn trên thị trường tiền tệ; quản trị mạng lưới hiệu quả đi đôi với phát triển các kênh phân phối mới; quản trị tài chính hiệu quả; nâng cao năng suất lao động.

VietinBank tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng chính đáng, cần thiết của nền kinh tế, phù hợp với năng lực vốn của ngân hàng và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Chất lượng tài sản được nâng cao, tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,94%, tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 136%.

VietinBank đã mua lại toàn bộ trái phiếu đặc biệt tại VAMC trong chưa đầy 2 năm thay vì 5 năm theo dự kiến, nhờ đẩy mạnh công tác thu hồi và xử lý nợ xấu, tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh trong giai đoạn tiếp theo. Tỷ lệ chi phí hoạt động so với tổng thu nhập hoạt động được kiểm soát ở mức 35,5%.

Trên cơ sở phát huy những thế mạnh trong hoạt động kinh doanh và tích cực triển khai các định hướng chiến lược, trong quý I/2021, VietinBank tiếp tục đạt được những kết quả kinh doanh tích cực. Các chỉ số về an toàn và hiệu quả hoạt động đều tốt hơn nhiều so với cùng kỳ, trong đó: Các hạng mục thu nhập hoạt động chính của ngân hàng đều có sự tăng trưởng trên 25% so với cùng kỳ năm 2020, chi phí hoạt động được quản trị hiệu quả, CIR duy trì ở mức hợp lý; Chất lượng tài sản được quản lý tốt, tỷ lệ nợ xấu được quản lý ở mức dưới 1%.

Đặc biệt, VietinBank tiếp tục chủ động thực hiện các giải pháp cân đối nguồn vốn hiệu quả, tiết giảm chi phí vốn để tạo nguồn lực tiếp tục triển khai mạnh mẽ các chính sách ưu đãi, giảm lãi suất cho vay và phí dịch vụ, luôn duy trì mặt bằng lãi suất cho vay, phí dịch vụ ở mức thấp, hợp lý nhất, hỗ trợ, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, phát huy vai trò NHTM chủ lực, trụ cột trong việc cung ứng vốn và dịch vụ tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Ông Lê Đức Thọ - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT VietinBank khẳng định: Năm 2020, VietinBank đã phát huy rất tốt vai trò chủ lực, trụ cột của đất nước, đồng hành hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất kinh doanh; đồng thời đẩy mạnh đổi mới, cải cách, tái cấu trúc hoạt động, thực hiện thành công các kế hoạch đề ra.

vietinbank
VietinBank đạt được những kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm 2021. Ảnh TL minh họa

Tiếp tục hướng tới những tầm cao mới

Trước những thách thức và yêu cầu ngày càng cao cho phát triển kinh tế - xã hội và ngành Ngân hàng, hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng, VietinBank xác định tiếp tục bám sát tình hình để kịp thời đánh giá tác động tới hoạt động kinh doanh và đầu tư; đồng thời chủ động có các biện pháp ứng xử với các tình huống phát sinh trong thực tiễn.

Năm 2021, VietinBank đặt ra các mục tiêu chính trong hoạt động kinh doanh bao gồm: Dư nợ tín dụng tăng trưởng 7,5%, tuân thủ hạn mức tín dụng NHNN phê duyệt (mức tăng trưởng cụ thể theo phê duyệt của NHNN và nhu cầu thực tế cần thiết của thị trường). Nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng 8% - 12%, có điều chỉnh phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của NHNN.

Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng được kiểm soát dưới 1,5%. Các tỷ lệ an toàn hoạt động tuân thủ theo quy định của NHNN; tiếp tục cải thiện mạnh mẽ hiệu quả kinh doanh, đóng góp thiết thực và ngày càng lớn hơn vào sự phát triển của đất nước.

Đặc biệt, năm 2021 là năm đầu tiên VietinBank thực hiện chiến lược phát triển 10 năm 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và kế hoạch kinh doanh trung hạn 2021 - 2023 với tiêu chuẩn hoạt động theo Basel II. Điều này đòi hỏi ngân hàng cần tiếp tục thay đổi rất lớn từ tư duy đến cách làm, đáp ứng yêu cầu mới, tiêu chuẩn mới trong hoạt động kinh doanh.

Để tiếp nối những thành công của năm 2020, VietinBank cần tiếp tục bám sát tình hình mới về kinh tế - xã hội năm 2021 để kịp thời đánh giá tác động tới hoạt động kinh doanh và đầu tư, đồng thời chủ động có các biện pháp ứng xử với các tình huống phát sinh trong thực tiễn.

“Có thể khẳng định rằng, hệ thống VietinBank chưa bao giờ có được tiềm lực tài chính, vị thế, uy tín như hiện nay. Những thành công của toàn hệ thống VietinBank cũng như những đóng góp của VietinBank đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn vừa qua đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận và đánh giá cao. Điều này tiếp thêm động lực và sức mạnh to lớn cho toàn hệ thống VietinBank; đồng thời đặt ra yêu cầu mới đòi hỏi toàn hệ thống VietinBank cần phải tiếp tục nỗ lực và trách nhiệm cao hơn nữa, kiên định với định hướng chiến lược phát triển; hoàn thành xuất sắc các mục tiêu kế hoạch và chiến lược đề ra để phát triển mạnh mẽ; phụng sự đắc lực cho sự phát triển đất nước nhanh và bền vững, hội nhập với thế giới thành công” - ông Lê Đức Thọ chia sẻ./.

Hồng Minh

Hồng Minh

Đọc thêm

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Kim TT/AVPL 17,200 ▲110K 17,500 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▼40K 17,200 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▼40K 17,150 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▼40K 17,130 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Nghệ An 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Thái Bình 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 ▲90K 17,360 ▲90K
Trang sức 99.99 16,670 ▲90K 17,370 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 ▲11K 17,492 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 ▲11K 17,493 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 ▲11K 1,747 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 ▲11K 1,748 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 ▲11K 1,732 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 ▲1089K 171,485 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 ▲825K 130,063 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 ▲98209K 117,938 ▲106219K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 ▲672K 105,813 ▲672K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 ▲642K 101,136 ▲642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 ▲459K 72,382 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cập nhật: 31/03/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17526 17799 18375
CAD 18361 18637 19256
CHF 32273 32656 33296
CNY 0 3470 3830
EUR 29575 29846 30875
GBP 33984 34374 35306
HKD 0 3229 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14731 15313
SGD 19867 20149 20677
THB 716 779 832
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,677 29,701 30,930
JPY 160.34 160.63 169.3
GBP 34,129 34,221 35,191
AUD 17,699 17,763 18,320
CAD 18,540 18,600 19,165
CHF 32,513 32,614 33,371
SGD 19,979 20,041 20,698
CNY - 3,777 3,894
HKD 3,291 3,301 3,418
KRW 15.87 16.55 17.89
THB 762.53 771.95 821.41
NZD 14,708 14,845 15,193
SEK - 2,704 2,783
DKK - 3,973 4,088
NOK - 2,645 2,722
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,086.98 - 6,832.92
TWD 740.96 - 892.12
SAR - 6,896.44 7,219.72
KWD - 83,467 88,265
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17722 17822 18747
CAD 18566 18666 19682
CHF 32587 32617 34191
CNY 3754.9 3779.9 3915.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29775 29805 31533
GBP 34290 34340 36100
HKD 0 3355 0
JPY 161.44 161.94 172.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14877 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20026 20156 20889
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17300000 17300000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,357
USD20 26,165 26,215 26,357
USD1 23,847 26,215 26,357
AUD 17,797 17,897 19,016
EUR 29,954 29,954 31,386
CAD 18,519 18,619 19,941
SGD 20,112 20,262 21,500
JPY 161.88 163.38 168.01
GBP 34,215 34,565 35,456
XAU 17,198,000 0 17,502,000
CNY 0 3,664 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80