Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
aa

PV: Theo số liệu từ Bộ Tài chính, trong hai tháng đầu năm 2026, tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt gần 14 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2%, cao hơn đáng kể mức tăng doanh thu phí (2,3%). Đây là thực tế đã duy trì kéo dài và thể hiện rõ nét qua kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết. Ông đánh giá thế nào về xu hướng này?

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh
TS. Lê Bá Chí Nhân

TS. Lê Bá Chí Nhân: Việc doanh thu phí bảo hiểm của toàn ngành quay trở lại tăng trưởng dương, trong đó khối doanh nghiệp phi nhân thọ và doanh nghiệp niêm yết vẫn duy trì mức tăng khả quan, cho thấy nhu cầu tham gia bảo hiểm của các chủ thể trong nền kinh tế vẫn tiếp tục mở rộng.

Chi bồi thường tăng ở mức 2 con số cho thấy, các doanh nghiệp đang chủ động thực hiện cam kết chi trả, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ, qua đó khẳng định rõ vai trò và giá trị của ngành bảo hiểm trong việc bảo vệ khách hàng và hỗ trợ nền kinh tế.

Dù vậy, việc chi phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng cho thấy áp lực rủi ro lớn dần, đặt ra yêu cầu kiểm soát hiệu quả nhằm bảo đảm tính bền vững của biên lợi nhuận.

Trong hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ, khi chi phí bồi thường tăng mạnh hơn rõ rệt so với tăng trưởng doanh thu phí, tỷ lệ bồi thường có xu hướng xấu đi, khiến lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm bị thu hẹp đáng kể, thậm chí có thể chuyển sang trạng thái thua lỗ kỹ thuật ở một số nghiệp vụ.

Nguyên nhân của xu hướng này phần lớn đến từ sự gia tăng tần suất và mức độ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu, cũng như chi phí sửa chữa và thay thế tài sản ngày càng cao. Bên cạnh đó, trong môi trường cạnh tranh gay gắt, một số doanh nghiệp có thể duy trì chính sách phí bảo hiểm ở mức thấp để giữ thị phần, khiến biên lợi nhuận vốn đã mỏng, càng dễ bị tổn thương khi rủi ro phát sinh.

Hệ quả là nhiều doanh nghiệp buộc phải phụ thuộc nhiều hơn vào thu nhập từ hoạt động tài chính, để duy trì kết quả kinh doanh tổng thể.

PV: Dữ liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, mức tăng 10,95% của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ được đóng góp đáng kể bởi nhiều doanh nghiệp tăng trưởng vượt trội ở mức 3 con số. Trong khi đó, một số doanh nghiệp lại sụt giảm, kéo theo kết quả lợi nhuận có sự phân hóa rõ nét. Theo ông, đâu là những yếu tố chính dẫn tới sự phân hóa này?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Sự phân hóa kết quả kinh doanh cho thấy, không phải doanh nghiệp nào cũng thích ứng tốt với môi trường rủi ro mới. Những doanh nghiệp có danh mục bảo hiểm tập trung vào các nghiệp vụ nhạy cảm với thiên tai, hoặc cạnh tranh thị phần bằng chính sách phí thấp, thường dễ chịu tác động tiêu cực khi chi bồi thường tăng đột biến.

Ngoài ra, năng lực quản trị tái bảo hiểm và kiểm soát chi phí khai thác khác nhau cũng khiến hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp có sự chênh lệch đáng kể.

Bên cạnh yếu tố hoạt động bảo hiểm cốt lõi, sự khác biệt về chiến lược đầu tư tài chính cũng góp phần làm gia tăng mức độ phân hóa lợi nhuận. Doanh nghiệp có danh mục đầu tư an toàn, phân bổ hợp lý theo kỳ hạn lãi suất thường duy trì được nguồn thu ổn định, trong khi những doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị trường tài sản có độ biến động cao dễ đối mặt với rủi ro lợi nhuận không ổn định.

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh
Hai tháng đầu năm 2026, tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt gần 14 nghìn tỷ đồng. Ảnh: An Thư

PV: Dù vậy, mức chi bồi thường cao cũng phản ánh vai trò đồng hành, chia sẻ rủi ro với khách hàng. Vậy các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần cân đối ra sao giữa hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm bảo hiểm để đảm bảo tăng trưởng bền vững, thưa ông?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Việc chi bồi thường tăng cao dù phản ánh áp lực lên hiệu quả kinh doanh, nhưng cũng thể hiện rõ vai trò của bảo hiểm trong việc chia sẻ và phân tán rủi ro cho nền kinh tế. Đây chính là bản chất xã hội và giá trị cốt lõi của ngành bảo hiểm.

Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng bền vững, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần xoay trục, giữ được sự cân bằng hợp lý giữa trách nhiệm bảo hiểm và hiệu quả tài chính.

Trước hết, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng định phí theo nguyên tắc phản ánh đúng mức độ rủi ro. Việc định phí phù hợp không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì biên lợi nhuận, mà còn đảm bảo tính công bằng giữa các nhóm khách hàng, tránh tình trạng phí bảo hiểm thấp hơn mức độ rủi ro thực tế, vì điều này có thể dẫn đến mất cân đối tài chính khi xảy ra tổn thất lớn.

Chiến lược tăng trưởng theo chất lượng và hiệu quả

Theo TS. Lê Bá Chí Nhân, năm 2026 nhiều khả năng sẽ là giai đoạn ngành bảo hiểm phi nhân thọ chuyển từ chiến lược tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng theo chất lượng và hiệu quả. Doanh nghiệp nào xây dựng được mô hình định phí chính xác, chương trình tái bảo hiểm hợp lý và danh mục rủi ro cân đối sẽ có lợi thế trong việc duy trì biên lợi nhuận và nâng cao sức chống chịu trước các cú sốc thiên tai trong tương lai.

Thứ hai, tăng cường quản trị rủi ro và tái bảo hiểm là yếu tố then chốt để cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và an toàn tài chính. Thông qua các chương trình tái bảo hiểm hợp lý, doanh nghiệp có thể chia sẻ rủi ro mang tính thảm họa với thị trường quốc tế. Từ đó, vẫn đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bồi thường cho khách hàng mà không làm suy giảm năng lực tài chính dài hạn.

Thứ ba, doanh nghiệp cần chuyển dịch chiến lược từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng theo chất lượng. Điều này bao gồm việc lựa chọn danh mục khách hàng và sản phẩm có mức độ rủi ro phù hợp. Đồng thời, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh vào công nghệ dữ liệu để dự báo tổn thất, giám định bồi thường nhanh và kiểm soát gian lận bảo hiểm. Khi quản trị rủi ro tốt hơn, doanh nghiệp vừa bảo vệ quyền lợi khách hàng, vừa kiểm soát được chi phí bồi thường.

Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức phòng ngừa rủi ro cho khách hàng và doanh nghiệp cũng là một giải pháp mang tính bền vững. Khi khách hàng chủ động áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro, tần suất tổn thất sẽ giảm, qua đó, tạo ra lợi ích chung cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm.

PV: Sau giai đoạn bồi thường tăng cao do thiên tai vào quý cuối năm 2025, theo ông, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ sẽ điều chỉnh chiến lược định phí, tái bảo hiểm và quản trị rủi ro như thế nào trong thời gian tới, khi dự báo rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nhiều khả năng sẽ bước vào giai đoạn điều chỉnh chiến lược theo hướng thận trọng và chú trọng hơn đến quản trị rủi ro nhằm bảo vệ biên lợi nhuận trong năm 2026.

Về chiến lược định phí, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng điều chỉnh mức phí theo sát hơn với mức độ rủi ro thực tế, đặc biệt đối với các sản phẩm chịu tác động trực tiếp từ thiên tai như bảo hiểm tài sản, kỹ thuật, hàng hải hay nông nghiệp.

Việc ứng dụng dữ liệu lớn, mô hình dự báo rủi ro và phân tích khí hậu sẽ được đẩy mạnh nhằm giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác hơn xác suất tổn thất, từ đó hạn chế tình trạng định phí thấp hơn rủi ro thực tế.

Về lựa chọn và quản trị danh mục rủi ro, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng siết chặt tiêu chuẩn thẩm định, hạn chế mở rộng thị phần bằng mọi giá, đặc biệt đối với các khu vực có mức độ rủi ro thiên tai cao hoặc những phân khúc có tỷ lệ bồi thường lớn trong quá khứ. Song song đó, các doanh nghiệp cũng sẽ đa dạng hóa danh mục sản phẩm, mở rộng sang các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thường ổn định hơn nhằm cân bằng rủi ro tổng thể.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,750
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 14,640
Trang sức 99.99 13,950 14,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 148
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 1,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 146
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 144,554
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 9,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 89,219
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 85,277
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 61,038
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 16/07/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80