Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
aa

PV: Theo số liệu từ Bộ Tài chính, trong hai tháng đầu năm 2026, tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt gần 14 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2%, cao hơn đáng kể mức tăng doanh thu phí (2,3%). Đây là thực tế đã duy trì kéo dài và thể hiện rõ nét qua kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết. Ông đánh giá thế nào về xu hướng này?

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh
TS. Lê Bá Chí Nhân

TS. Lê Bá Chí Nhân: Việc doanh thu phí bảo hiểm của toàn ngành quay trở lại tăng trưởng dương, trong đó khối doanh nghiệp phi nhân thọ và doanh nghiệp niêm yết vẫn duy trì mức tăng khả quan, cho thấy nhu cầu tham gia bảo hiểm của các chủ thể trong nền kinh tế vẫn tiếp tục mở rộng.

Chi bồi thường tăng ở mức 2 con số cho thấy, các doanh nghiệp đang chủ động thực hiện cam kết chi trả, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ, qua đó khẳng định rõ vai trò và giá trị của ngành bảo hiểm trong việc bảo vệ khách hàng và hỗ trợ nền kinh tế.

Dù vậy, việc chi phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng cho thấy áp lực rủi ro lớn dần, đặt ra yêu cầu kiểm soát hiệu quả nhằm bảo đảm tính bền vững của biên lợi nhuận.

Trong hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ, khi chi phí bồi thường tăng mạnh hơn rõ rệt so với tăng trưởng doanh thu phí, tỷ lệ bồi thường có xu hướng xấu đi, khiến lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm bị thu hẹp đáng kể, thậm chí có thể chuyển sang trạng thái thua lỗ kỹ thuật ở một số nghiệp vụ.

Nguyên nhân của xu hướng này phần lớn đến từ sự gia tăng tần suất và mức độ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu, cũng như chi phí sửa chữa và thay thế tài sản ngày càng cao. Bên cạnh đó, trong môi trường cạnh tranh gay gắt, một số doanh nghiệp có thể duy trì chính sách phí bảo hiểm ở mức thấp để giữ thị phần, khiến biên lợi nhuận vốn đã mỏng, càng dễ bị tổn thương khi rủi ro phát sinh.

Hệ quả là nhiều doanh nghiệp buộc phải phụ thuộc nhiều hơn vào thu nhập từ hoạt động tài chính, để duy trì kết quả kinh doanh tổng thể.

PV: Dữ liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, mức tăng 10,95% của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ được đóng góp đáng kể bởi nhiều doanh nghiệp tăng trưởng vượt trội ở mức 3 con số. Trong khi đó, một số doanh nghiệp lại sụt giảm, kéo theo kết quả lợi nhuận có sự phân hóa rõ nét. Theo ông, đâu là những yếu tố chính dẫn tới sự phân hóa này?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Sự phân hóa kết quả kinh doanh cho thấy, không phải doanh nghiệp nào cũng thích ứng tốt với môi trường rủi ro mới. Những doanh nghiệp có danh mục bảo hiểm tập trung vào các nghiệp vụ nhạy cảm với thiên tai, hoặc cạnh tranh thị phần bằng chính sách phí thấp, thường dễ chịu tác động tiêu cực khi chi bồi thường tăng đột biến.

Ngoài ra, năng lực quản trị tái bảo hiểm và kiểm soát chi phí khai thác khác nhau cũng khiến hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp có sự chênh lệch đáng kể.

Bên cạnh yếu tố hoạt động bảo hiểm cốt lõi, sự khác biệt về chiến lược đầu tư tài chính cũng góp phần làm gia tăng mức độ phân hóa lợi nhuận. Doanh nghiệp có danh mục đầu tư an toàn, phân bổ hợp lý theo kỳ hạn lãi suất thường duy trì được nguồn thu ổn định, trong khi những doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị trường tài sản có độ biến động cao dễ đối mặt với rủi ro lợi nhuận không ổn định.

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh
Hai tháng đầu năm 2026, tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt gần 14 nghìn tỷ đồng. Ảnh: An Thư

PV: Dù vậy, mức chi bồi thường cao cũng phản ánh vai trò đồng hành, chia sẻ rủi ro với khách hàng. Vậy các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần cân đối ra sao giữa hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm bảo hiểm để đảm bảo tăng trưởng bền vững, thưa ông?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Việc chi bồi thường tăng cao dù phản ánh áp lực lên hiệu quả kinh doanh, nhưng cũng thể hiện rõ vai trò của bảo hiểm trong việc chia sẻ và phân tán rủi ro cho nền kinh tế. Đây chính là bản chất xã hội và giá trị cốt lõi của ngành bảo hiểm.

Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng bền vững, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cần xoay trục, giữ được sự cân bằng hợp lý giữa trách nhiệm bảo hiểm và hiệu quả tài chính.

Trước hết, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng định phí theo nguyên tắc phản ánh đúng mức độ rủi ro. Việc định phí phù hợp không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì biên lợi nhuận, mà còn đảm bảo tính công bằng giữa các nhóm khách hàng, tránh tình trạng phí bảo hiểm thấp hơn mức độ rủi ro thực tế, vì điều này có thể dẫn đến mất cân đối tài chính khi xảy ra tổn thất lớn.

Chiến lược tăng trưởng theo chất lượng và hiệu quả

Theo TS. Lê Bá Chí Nhân, năm 2026 nhiều khả năng sẽ là giai đoạn ngành bảo hiểm phi nhân thọ chuyển từ chiến lược tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng theo chất lượng và hiệu quả. Doanh nghiệp nào xây dựng được mô hình định phí chính xác, chương trình tái bảo hiểm hợp lý và danh mục rủi ro cân đối sẽ có lợi thế trong việc duy trì biên lợi nhuận và nâng cao sức chống chịu trước các cú sốc thiên tai trong tương lai.

Thứ hai, tăng cường quản trị rủi ro và tái bảo hiểm là yếu tố then chốt để cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và an toàn tài chính. Thông qua các chương trình tái bảo hiểm hợp lý, doanh nghiệp có thể chia sẻ rủi ro mang tính thảm họa với thị trường quốc tế. Từ đó, vẫn đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bồi thường cho khách hàng mà không làm suy giảm năng lực tài chính dài hạn.

Thứ ba, doanh nghiệp cần chuyển dịch chiến lược từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng theo chất lượng. Điều này bao gồm việc lựa chọn danh mục khách hàng và sản phẩm có mức độ rủi ro phù hợp. Đồng thời, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh vào công nghệ dữ liệu để dự báo tổn thất, giám định bồi thường nhanh và kiểm soát gian lận bảo hiểm. Khi quản trị rủi ro tốt hơn, doanh nghiệp vừa bảo vệ quyền lợi khách hàng, vừa kiểm soát được chi phí bồi thường.

Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức phòng ngừa rủi ro cho khách hàng và doanh nghiệp cũng là một giải pháp mang tính bền vững. Khi khách hàng chủ động áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro, tần suất tổn thất sẽ giảm, qua đó, tạo ra lợi ích chung cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm.

PV: Sau giai đoạn bồi thường tăng cao do thiên tai vào quý cuối năm 2025, theo ông, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ sẽ điều chỉnh chiến lược định phí, tái bảo hiểm và quản trị rủi ro như thế nào trong thời gian tới, khi dự báo rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nhiều khả năng sẽ bước vào giai đoạn điều chỉnh chiến lược theo hướng thận trọng và chú trọng hơn đến quản trị rủi ro nhằm bảo vệ biên lợi nhuận trong năm 2026.

Về chiến lược định phí, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng điều chỉnh mức phí theo sát hơn với mức độ rủi ro thực tế, đặc biệt đối với các sản phẩm chịu tác động trực tiếp từ thiên tai như bảo hiểm tài sản, kỹ thuật, hàng hải hay nông nghiệp.

Việc ứng dụng dữ liệu lớn, mô hình dự báo rủi ro và phân tích khí hậu sẽ được đẩy mạnh nhằm giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác hơn xác suất tổn thất, từ đó hạn chế tình trạng định phí thấp hơn rủi ro thực tế.

Về lựa chọn và quản trị danh mục rủi ro, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng siết chặt tiêu chuẩn thẩm định, hạn chế mở rộng thị phần bằng mọi giá, đặc biệt đối với các khu vực có mức độ rủi ro thiên tai cao hoặc những phân khúc có tỷ lệ bồi thường lớn trong quá khứ. Song song đó, các doanh nghiệp cũng sẽ đa dạng hóa danh mục sản phẩm, mở rộng sang các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thường ổn định hơn nhằm cân bằng rủi ro tổng thể.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 27-28/10, Bảo hiểm VietinBank - VBI và Hyundai Marine & Fire Insurance (HMFI) tổ chức sự kiện hội nghị thường niên, đánh dấu năm thứ 8 trong quan hệ hợp tác chiến lược. Sự kiện tạo cơ hội để VBI kết nối kinh nghiệm quốc tế, cập nhật các xu hướng về phát triển sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì tăng trưởng bền vững.
Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

(TBTCO) - Sáng 30/10, tại TP. Cần Thơ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP. Cần Thơ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

(TBTCO) - Năm 2026 là năm thứ 3 liên tiếp thương hiệu Bán lẻ của VietinBank được ghi nhận tại Lễ trao giải thường niên của Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) ngày 30/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế của Ngân hàng Bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam luôn đồng hàng cùng khách hàng, đẩy mạnh chuyển đổi số và không ngừng đổi mới sản phẩm, dịch vụ.
Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

Kinh tế bạc mở hướng phát triển dịch vụ, củng cố an sinh cho người cao tuổi

(TBTCO) - Ngày 29/10, Tạp chí Kinh tế - Tài chính phối hợp với Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm “Phát triển kinh tế bạc - Kiến tạo trụ cột an sinh bền vững”, tập trung bàn giải pháp đổi mới mô hình chăm sóc sức khỏe, huy động nguồn lực xã hội và phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi.
PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

PVI vượt xa kế hoạch lợi nhuận năm 2026, "rót" gần 20.000 tỷ đồng vào nhiều kênh đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.748,9 tỷ đồng, tăng 17,6%, hoàn thành 140,7% kế hoạch năm. Doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng 10,2%, giúp Bảo hiểm PVI dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Danh mục đầu tư của PVI rất đa dạng gần 20.000 tỷ đồng, trong đó tiền gửi chiếm tỷ trọng chủ đạo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 ▼1000K 140,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Nghệ An 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
Miếng SJC Thái Bình 13,840 ▼130K 14,140 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,620 ▼180K 14,020 ▼130K
Trang sức 99.9 13,300 ▼130K 13,900 ▼130K
Trang sức 99.99 13,310 ▼130K 13,910 ▼130K
Vàng 99.9 12,850 ▼50K
Vàng 99.99 13,040 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,384 ▼13K 14,142 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,384 ▼13K 14,143 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,343 ▼9K 1,383 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,343 ▼9K 1,384 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,323 ▼9K 1,373 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,941 ▼891K 135,941 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,335 ▲83934K 103,135 ▲92754K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,723 ▼612K 93,523 ▼612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,111 ▲66645K 83,911 ▲75465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,404 ▼525K 80,204 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,761 ▼43224K 5,741 ▼52044K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 ▼13K 1,414 ▼13K
Cập nhật: 30/10/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18476
CAD 17958 18233 18850
CHF 30779 31156 31799
CNY 0 3836 3932
EUR 28272 28488 29571
GBP 33854 34244 35179
HKD 0 3158 3361
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14264 14856
SGD 19661 19942 20514
THB 681 744 798
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/10/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30