Agribank phấn đấu hoàn thành vượt kế hoạch các chỉ tiêu về công tác xử lý, thu hồi nợ

(TBTCO) - Bên cạnh nhiệm vụ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo chất lượng tín dụng, kế hoạch xử lý nợ là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt được Đảng ủy, Hội đồng thành viên, Ban điều hành Agribank sát sao chỉ đạo thực hiện nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực tài chính.
aa

Ngày 14/4/2025, tại Trụ sở chính Agribank, đồng chí Phạm Toàn Vượng - Phó Bí thư Đảng ủy, Thành viên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Agribank chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo xử lý nợ có vấn đề Trụ sở chính (Ban chỉ đạo Trụ sở chính).

Cuộc họp nhằm báo cáo, đánh giá hoạt động Ban chỉ đạo Trụ sở chính đến thời điểm 31/3/2025; kết quả xử lý thu hồi các khoản nợ thuộc diện Ban chỉ đạo xử lý nợ tại Trụ sở chính theo dõi, chỉ đạo và phương án xử lý nợ xấu, thu hồi nợ đã xử lý rủi ro (XLRR) năm 2025.

Agribank phấn đấu hoàn thành vượt kế hoạch các chỉ tiêu về công tác xử lý, thu hồi nợ
Đồng chí Phạm Toàn Vượng - Phó Bí thư Đảng ủy, Thành viên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Agribank chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo xử lý nợ có vấn đề trụ sở chính.

Thực hiện Nghị quyết chuyên đề số 06-NQ/ĐU-NHNo ngày 29/11/2021 của BCH Đảng bộ Agribank về tăng cường lãnh đạo nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý và thu hồi nợ có vấn đề, Hội đồng thành viên, Ban Điều hành đã chỉ đạo, đề ra các chính sách, công cụ hỗ trợ các đơn vị trong xử lý và thu hồi nợ, cùng với đó là các chính sách hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn để có điều kiện trả nợ ngân hàng. Do đó, công tác xử lý nợ được triển khai rất chủ động, tập trung nỗ lực với quyết tâm cao trong những năm qua. Hoạt động của Ban chỉ đạo Trụ sở chính và Chi nhánh trong năm 2024 và quý I/2025 đã đạt được các kết quả đáng ghi nhận.

Ngay từ đầu năm 2025, các thành viên Ban Chỉ đạo Trụ sở chính đã tổ chức nhiều chương trình làm việc, thường xuyên theo dõi, chỉ đạo các đơn vị, triển khai các giải pháp theo quy định, quyết tâm phấn đấu hoàn thành vượt kế hoạch các chỉ tiêu về công tác xử lý, thu hồi nợ.

Tổng Giám đốc đánh giá một số đơn vị đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong công tác xử lý, thu hồi nợ được Ban Chỉ đạo Trụ sở chính theo dõi, đôn đốc. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn tồn tại những vướng mắc, bất cập.

Tại cuộc họp này, các thành viên Ban chỉ đạo Trụ sở chính đã đánh giá tiến độ xử lý, thu hồi nợ thuộc diện Ban Chỉ đạo Trụ sở chính theo dõi chỉ đạo; đánh giá hoạt động của Ban chỉ đạo nợ có vấn đề của chi nhánh; chỉ rõ nguyên nhân tồn tại, phân tích khó khăn, vướng mắc và đưa ra đề xuất, kiến nghị trong quá trình hoạt động của Ban chỉ đạo xử lý nợ có vấn đề chi nhánh nhằm giải quyết hiệu quả đối với từng khoản vay, từng khách hàng để đạt được mục tiêu cao nhất là đảm bảo chất lượng tín dụng.

Tổng Giám đốc Phạm Toàn Vượng đánh giá kết quả quý I/2025 của Ban chỉ đạo Trụ sở chính đã làm được nhiều việc, định hình được bước đi, nhận diện được tình hình, triển khai phương án và cơ bản kết quả bám sát kế hoạch đã đề ra.

Tổng Giám đốc Agribank nhấn mạnh, xử lý và thu hồi nợ là nhiệm vụ trọng tâm năm 2025, bắt buộc phải hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch, phấn đấu đến thời điểm 31/12/2025, bằng các giải pháp đồng bộ phấn đấu không còn chi nhánh nào có tỷ lệ nợ xấu trên 3%. Ưu tiên dành nguồn lực để hỗ trợ các chi nhánh xử lý dứt điểm, đảm bảo thực hiện thành công Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025. Các chi nhánh phải tập trung kiểm soát nợ tiềm ẩn, không để nợ xấu phát sinh, khẩn trương thu hồi ngay các khoản nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro đã phát sinh.

Các đơn vị theo phân công nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trụ sở chính bám sát kế hoạch được giao, triển khai có hiệu quả các phương án thu hồi nợ theo lộ trình, thời gian cụ thể (tháng/quý/năm), phân công nhiệm vụ đối với từng bộ phận, cá nhân; đồng thời đánh giá, giám sát kết quả thực hiện hàng quý và kiên quyết đề xuất xử lý trách nhiệm đối với cán bộ có liên quan không hợp tác, không nỗ lực trong quá trình triển khai, không có kết quả trong kỳ báo cáo. Nhiệm vụ giám sát của các đơn vị, cá nhân trong công tác kiểm soát nợ phát sinh, xử lý, thu hồi nợ được Tổng Giám đốc đặc biệt nhấn mạnh.

Một nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xử lý nợ năm 2025 là xây dựng phương án xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro của toàn hệ thống, trong đó chủ động triển khai các giải pháp đồng bộ để thu hồi nợ, có phương án trích lập dự phòng, xử lý rủi ro phù hợp. Phương án xử lý nợ có vấn đề được xây dựng và thực hiện theo tháng/quý/năm làm cơ sở đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ ngay từ những ngày đầu năm, không đợi kết quả cuối năm. Thành lập các Tổ chuyên trách để xử lý nợ đối với các chi nhánh nợ xấu phát sinh cao, nợ xử lý rủi ro lớn, chất lượng tín dụng còn nhiều hạn chế nhưng kết quả triển khai xử lý, thu hồi nợ chậm, không hiệu quả. Bên cạnh đó, tập trung thường xuyên rà soát, đánh giá các khoản cấp tín dụng có vấn đề để đưa ra phương án, biện pháp xử lý nợ phù hợp.

Triển khai hiệu quả công tác xử lý, thu hồi nợ sẽ đóng góp trực tiếp vào kết quả hoạt động kinh doanh, góp phần hoàn thành mục tiêu Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025 của Agribank, cùng toàn ngành Ngân hàng hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, thiết thực cùng cả nước phấn đấu đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tăng trưởng 8% trở lên./.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80