Agribank triển khai tích cực các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó

(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2023, Agribank nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ nền kinh tế vượt khó, nỗ lực kinh doanh an toàn, hiệu quả, giảm lãi suất cho vay hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.
aa

Giảm mạnh lãi suất cho vay chia sẻ khó khăn với khách hàng

Trong những tháng đầu năm 2023, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do tác động nhiều chiều từ những khó khăn trong nước sau 2 năm dịch vẫn còn, thêm vào đó là tình hình biến động kinh tế thế giới còn phức tạp.

Đứng trước những khó khăn chung của nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu quả, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ, ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng. Từ tháng 3 đến tháng 6/2023, NHNN đã giảm liên tục 04 lần các mức lãi suất với mức giảm 0,5-2,0%/năm. Qua đó tiếp tục định hướng giảm mặt bằng lãi suất cho vay của thị trường, tăng khả năng tiếp cận vốn của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đồng thời chỉ đạo tổ chức tín dụng (TCTD) có các giải pháp tiết kiệm chi phí, giảm lãi suất cho vay.

Agribank triển khai tích cực các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó
Agribank nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của NHNN, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ nền kinh tế vượt khó, nỗ lực kinh doanh an toàn, hiệu quả, giảm lãi suất cho vay hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Ảnh: Agribank

Về phía các TCTD cũng đang nỗ lực không ngừng triển khai mọi giải pháp để hỗ trợ để đẩy vốn ra nền kinh tế thông qua các gói vay ưu đãi, thủ tục vay được số hoá với phương thức nhanh gọn, tiện lợi hơn.

Xác định là một ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước lớn đi đầu trong thực thi chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và NHNN, 6 tháng đầu năm, Agribank nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của NHNN, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ nền kinh tế vượt khó, nỗ lực kinh doanh an toàn, hiệu quả, giảm lãi suất cho vay hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.

Agribank là ngân hàng giảm lãi suất cho vay nhiều nhất trong hệ thống ngân hàng khi đã có tới 7 lần điều chỉnh giảm lãi suất. Theo đó, đối với nhu cầu vay mới phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, mức lãi suất cho vay ngắn hạn chỉ từ 5%/năm, lãi suất cho vay trung dài hạn chỉ từ 8%/năm.

Tính đến thời điểm hiện tại, lãi suất cho vay của Agribank đã giảm mạnh với mức giảm từ 2% đến 4%/năm so với đầu năm. Với mức lãi suất cho vay hiện nay, Agribank mong muốn được chia sẻ khó khăn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tối ưu chi phí vay, kịp thời bổ sung nguồn vốn tái cơ cấu hoạt động, đặc biệt là đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Tuy hoạt động ngân hàng cũng đối mặt với nhiều khó khăn do chịu tác động từ nền kinh tế, nhưng ngân hàng chấp nhận cắt giảm lợi nhuận, sẵn sàng chia sẻ khó khăn, đồng hành với người dân, doanh nghiệp, nền kinh tế.

Lãnh đạo cho biết, Agribank tiết giảm hơn 1.000 tỷ đồng giảm lãi suất cho vay, với 2,2 triệu khách hàng được hỗ trợ. "Mặc dù chi phí huy động tăng, nhưng ngân hàng nghiêm túc giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN. Điều này ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh. Nhưng ngân hàng sẵn sàng chấp nhận giảm lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng trụ vững duy trì hoạt động kinh doanh, sớm vượt qua khó khăn" - lãnh đạo Agribank chia sẻ.

Triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, nền kinh tế

Bên cạnh các giải pháp giảm lãi suất, ngân hàng còn đồng thời triển khai tích nhiều chính sách, chương trình tín dụng ưu đãi cho cả doanh nghiệp. Cụ thể, chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 02, đến hết tháng 6 đã cơ cấu lại nợ cho hơn 2.000 khách hàng; triển khai hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước theo Nghị định 31, Agribank đã hỗ trợ lãi suất cho 893 khách hàng; doanh số cho vay 10.813 tỷ đồng, dư nợ 4.973 tỷ đồng, số tiền hỗ trợ lãi suất 57,4 tỷ đồng.

Ngoài ra để hỗ trợ khách hàng trả nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid-19, Agribank không áp dụng lãi suất phạt quá hạn, lãi chậm trả, các loại phí từ ngày phát sinh nợ quá hạn đến ngày khách hàng thực hiện trả nợ.

Agribank triển khai tích cực các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó
Agribank đã hỗ trợ lãi suất cho 893 khách hàng. Ảnh: Agribank

Đánh giá về hoạt động của Agribank, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN biểu dương tinh thần trách nhiệm, nỗ lực cố gắng của Agribank tiếp tục khẳng định được vị trí vai trò của NHTM nhà nước trong việc chấp hành chủ trương chính sách của Chính phủ, NHNN.

Cụ thể, Agribank đã giảm 14 lần lãi suất huy động, 7 lần giảm lãi suất cho vay, và chú trọng tăng khả năng tiếp cận vốn cho khách hàng. Thu dịch vụ duy trì ổn định; điều hòa vốn luân chuyển vốn trong hệ thống nhịp nhàng, nhanh nhạy vừa giảm chi phí vừa tạo điều kiện cho các chi nhánh có nguồn vốn cho vay kịp thời. Điểm tích cực nữa, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng ở mức hơn 130% trong bối cảnh áp lực trích lập dự phòng rủi ro tăng cho thấy ngân hàng đã rất cố gắng vừa đảm bảo hoạt động hiệu quả, an toàn.

Các chương trình tín dụng lãi suất thấp được ngân hàng triển khai tích cực với quy mô lớn, đối tượng đa dạng như chương trình tín dụng 100.000 tỷ đồng và 500 triệu USD dành cho khách hàng doanh nghiệp với mức lãi suất cho vay VND ưu đãi chỉ từ 5%/năm, lãi suất cho vay USD chỉ từ 3%/năm; dành quy mô 30.000 tỷ đồng triển khai chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP… Agribank còn giảm tới 3% lãi suất cho khách hàng vay vốn với mục đích kinh doanh bất động sản gặp khó khăn còn dư nợ trong thời gian 31/01/2023 đến 31/12/2024.

Dự báo môi trường kinh doanh trong những tháng cuối năm còn nhiều bất định. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô dự kiến còn nhiều khó khăn, để hoàn thành toàn diện kế hoạch cả năm 2023, lãnh đạo Agribank cho biết, toàn hệ thống ngân hàng tập trung tối đa mọi nguồn lực để khắc phục khó khăn, triển khai quyết liệt các giải pháp kinh doanh 6 tháng cuối năm.

Theo đó, Agribank tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, tình hình cân đối vốn, chủ động dự báo để điều hành linh hoạt lãi suất, chi phí điều vốn nội bộ... nhằm đảm bảo cân đối, tăng trưởng nguồn vốn phù hợp với tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; tiếp tục tập trung tăng trưởng nguồn vốn không kỳ hạn, góp phần giảm chi phí đầu vào, đảm bảo tài chính của chi nhánh và toàn hệ thống.

Về công tác tín dụng, Agribank tiếp tục chủ động, linh hoạt bám sát diễn biến thị trường, tập trung chỉ đạo tăng trưởng tín dụng vào các ngành, lĩnh vực có dấu hiệu phục hồi tốt, giữ vững thị phần, hy sinh lợi ích tài chính để tăng trưởng quy mô khách hàng, lĩnh vực tiềm năng như dệt may, da giầy... Song song với đó, Agribank triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng, sản phẩm hiện có, áp dụng lãi suất phù hợp để duy trì khách hàng truyền thống, thu hút khách hàng tốt, thực hiện chính sách khách hàng theo đối tượng quản lý, nâng cao sức cạnh tranh của chi nhánh, tận dụng thời cơ để trưởng tín dụng, nhất là trong bối cảnh NHNN điều chỉnh giảm nhanh các mức lãi suất điều hành để hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Một trong giải pháp trọng tâm của Agribank trong giai đoạn tới là tập trung xây dựng, triển khai kịp thời các chương trình, sản phẩm tín dụng mới có tính ổn định, kế thừa, phù hợp với từng loại hình, nhu cẩu sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp tại từng địa bàn nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hiệu quả.

Với kết quả đạt được cùng nỗ lực, quyết tâm, triển khai quyết liệt các giải pháp, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú tin tưởng, Agribank tiếp tục đi đầu, giữ vững vị trí vai trò chủ lực của NHTM lớn với 100% vốn nhà nước, đóng góp tích cực đối với hệ thống ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung./.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17895 18169 18741
CAD 18139 18415 19029
CHF 31645 32025 32662
CNY 0 3848 3940
EUR 29370 29590 30667
GBP 34302 34693 35623
HKD 0 3225 3427
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14955 15545
SGD 19867 20149 20715
THB 700 763 816
USD (1,2) 26053 0 0
USD (5,10,20) 26094 0 0
USD (50,100) 26123 26132 26496
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,509 29,533 30,942
JPY 156.57 156.85 166.32
GBP 34,494 34,587 35,780
AUD 18,099 18,164 18,847
CAD 18,321 18,380 19,055
CHF 31,904 32,003 32,952
SGD 19,979 20,041 20,834
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.51 17.22 18.73
THB 747.49 756.72 809.6
NZD 14,933 15,072 15,517
SEK - 2,674 2,768
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,695 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.48 - 6,798.11
TWD 734.81 - 890.08
SAR - 6,893.16 7,259.71
KWD - 83,217 88,534
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26495
AUD 18075 18175 19100
CAD 18346 18446 19461
CHF 31911 31941 33527
CNY 3827.9 3852.9 3988.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29580 29610 31332
GBP 34658 34708 36463
HKD 0 3355 0
JPY 157.41 157.91 168.45
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15062 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20036 20166 20889
THB 0 729.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,142 26,192 26,510
USD20 26,142 26,192 26,510
USD1 26,142 26,192 26,510
AUD 18,126 18,226 19,331
EUR 29,372 29,472 31,131
CAD 18,258 18,358 19,667
SGD 20,100 20,250 20,806
JPY 157.87 159.37 164.92
GBP 34,537 34,687 35,749
XAU 13,898,000 0 14,302,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80