Agribank - Vì tương lai xanh, từ phong trào đến mục tiêu phát triển bền vững

Bài và ảnh: Thùy Trang
(TBTCO) - 65 năm qua, phong trào Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ đã trở thành nét văn hóa được lan tỏa sâu rộng trên toàn quốc. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, trên mỗi bước đi trong hành trình “Vì tương lai xanh”, hàng năm, Agribank đã và đang triển khai nhiều hoạt động trồng cây xanh, tặng cây giống trong toàn hệ thống với hy vọng, mong muốn một tương lai với môi trường sống xanh, không còn xói mòn, lũ quét..., góp phần hỗ trợ sinh kế cho người dân và vì mục tiêu “Phát triển bền vững”.
aa
Agribank - Vì tương lai xanh, từ phong trào đến mục tiêu phát triển bền vững

Đại diện Agribank chi nhánh Lạng Sơn trao cây giống cho các gia đình khó khăn sáng 17/2/2024.

Ươm mầm xanh cho tương lai

Trong dịp đầu Xuân Giáp Thìn 2024, sáng ngày 17/2, tại thôn Khòn Pát, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Lạng Sơn (Agribank Lạng Sơn) phối hợp với UBND xã Mai Pha, Thành đoàn Lạng Sơn trao tặng 10.000 cây giống (gồm 2.000 cây keo; 8.000 cây bạch đàn và thông) cho 16 gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại thôn Khòn Pát và thôn Bình Cằm, xã Mai Pha. Đây là hoạt động thể hiện tinh thần trách nhiệm với cộng đồng của Agribank trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, hỗ trợ sinh kế cho người dân địa phương.

Góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững

Với lực lượng cán bộ hùng hậu gần 40.000 người, chung tay cùng hành động vì môi trường từ những việc làm thiết thực, Agribank tin tưởng sẽ góp phần vào mục tiêu phát triển xanh, bền vững của quốc gia.

Trước đó, vào ngày mùng 6 Tết Giáp Thìn (15/2/2024), tại xã Quảng La, thành phố Hạ Long, Đoàn thanh niên Agribank Quảng Ninh đã tham gia lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Giáp Thìn năm 2024, do Tỉnh đoàn Quảng Ninh tổ chức. Tại chương trình, Đoàn thanh niên Agribank Quảng Ninh đã trồng và trao tặng 1.000 cây lim xanh cho địa phương.

Việc trao tặng cây xanh đến bà con nhân dân ngay trong những ngày đầu năm mới được đánh giá là một trong những hoạt động thiết thực, ý nghĩa, góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng, tạo cảnh quan môi trường ở địa phương, bảo đảm môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp... Bên cạnh đó, việc hỗ trợ cây giống góp phần giúp người dân địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, tăng gia sản xuất, vươn lên thoát nghèo.

Hưởng ứng chương trình “Agribank Vì tương lai xanh”, “Xanh hoá công sở”, từ năm 2020, Agribank Bình Định tổ chức triển khai chương trình “Xanh hoá môi trường làm việc”. Bước sang năm thứ 4, với mong muốn lan toả rộng rãi hiệu quả và ý nghĩa của chương trình, hướng đến mục tiêu mang lại cảm giác thoải mái, tạo động lực nâng cao hiệu quả công việc, công đoàn chi nhánh đã tổ chức triển khai cuộc thi sáng tạo video clip “Xanh hoá môi trường làm việc” tới 13 công đoàn cơ sở thành viên trực thuộc. Qua các cuộc thi, công đoàn cơ sở đã tận dụng những khoảng trống của cơ quan từ góc sân, ban công, hành lang thành những khu vườn nhỏ xinh xắn với cây xanh và hoa tươi. Nhiều không gian xanh trở thành điểm thư giãn của đoàn viên, người lao động sau mỗi giờ làm việc.

Bà Nguyễn Thị Tuyến - Phó Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn cơ sở Agribank Bình Định, đánh giá: Phong trào thi đua bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực, được cơ sở và đoàn viên hưởng ứng nhiệt tình, được sự đồng thuận cao của người sử dụng lao động, từ đó tạo nếp sống thân thiện với môi trường và động lực để mỗi đoàn viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Sau hơn 4 năm triển khai đồng bộ chiến dịch "Agribank Vì tương lai xanh" đang từng bước khoác lên những "tấm áo xanh" trên khắp dải đất hình chữ S. Hàng triệu cây xanh, hạt giống được Agribank gieo mầm tại khắp các tỉnh thành trên cả nước. Rộng hơn nữa, nguồn vốn xanh đồng ruộng, xanh biển rừng, xanh biên cương, xanh hải đảo của Agribank cũng chính là hành trình vì tương lai xanh trên mọi miền Tổ quốc.

“Agribank vì tương lai xanh” đã và đang là mục tiêu xuyên suốt từ nhận thức đến hành động của gần 40.000 cán bộ Agribank trên toàn hệ thống, để chung tay cùng ngành Ngân hàng thực hiện thành công chiến lược quốc gia của Việt Nam về kinh tế xanh thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Từ phong trào đến thực thi “phát triển bền vững”

Agribank - Vì tương lai xanh, từ phong trào đến mục tiêu phát triển bền vững
Ảnh minh họa.

Với mục tiêu xanh hóa hoạt động ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, hướng đến phát triển bền vững, trong nhiều năm qua, Agribank đã và đang tập trung ưu tiên nguồn vốn, mở rộng cho vay có hiệu quả các dự án, chương trình phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là các chương trình, dự án tạo ra giá trị tăng thêm, năng lượng sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Vừa mới đây, Agribank dành 15.000 tỷ đồng tài trợ các dự án đầu tư thuộc 6 ngành trọng điểm và dự án thuộc lĩnh vực xanh. Chương trình ưu đãi này nằm trong các hoạt động được Agribank tích cực triển khai nhằm hỗ trợ dòng vốn đối với các dự án xanh, thân thiện với môi trường, qua đó mang lại lợi ích chung cho toàn cộng đồng.

Trên thực tế, từ nguồn vốn Agribank, nhiều chương trình mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao đã và đang được hình thành trên khắp mọi vùng, miền đất nước. Agribank cũng là một trong những ngân hàng liên tục dành nguồn vốn hỗ trợ cho vay dự án năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời. Những nguồn vốn xanh bảo vệ môi trường và tích cực cho xã hội đã bồi đắp cho nhiều dự án năng lượng tái tạo vẫn tiếp tục duy trì và phát triển như dự án điện mặt trời tại Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên Huế), điện mặt trời tại Ninh Thuận, điện gió tại Bạc Liêu, Hàm Thuận Nam,…

Tiên phong cùng ngành Ngân hàng thực hiện thành công các chiến lược quốc gia của Việt Nam về kinh tế “xanh” thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, bám sát chương trình “giải quyết ô nhiễm nhựa và nilon” do Thủ tướng Chính phủ và Liên hợp quốc phát động, Agribank triển khai nhiều chương trình, hoạt động gắn với thông điệp “vì tương lai xanh” như: phát động phong trào thi đua “nói không với rác thải nhựa”, “nói không với hút thuốc lá”, “gìn giữ môi trường làm việc xanh, sạch, đẹp”, “chung tay làm sạch môi trường biển”, hưởng ứng phong trào trồng cây xanh…

Với định hướng trọng tâm phát triển xanh, phát triển bền vững, bên cạnh chương trình trồng cây, Agribank còn tích cực triển khai những hoạt động các hoạt động nội bộ để ý thức hành động theo tiêu chuẩn ESG thấm nhuần trong cán bộ, nhân viên. Từ tiết kiệm giấy mực in, tiết kiệm điện, nước, trồng cây xanh tại cơ quan, văn phòng, chuyển đổi mô hình kinh doanh lên nền tảng số, vận hành văn phòng không giấy tờ, thúc đẩy những sáng kiến chuyển đổi sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, tiết kiệm điện năng, tái chế và tái sử dụng,… cho đến sự đồng hành trong những chương trình thiện nguyện hay những chiến dịch vì cộng đồng như hiến máu, trồng cây xanh, làm sạch cảnh quan, môi trường…, đều có sự tham gia tích cực của những cán bộ Agribank.

Ủng hộ hơn 500 tỷ đồng triển khai các hoạt động an sinh xã hội

Từ nguồn tài chính và sự hưởng ứng của cán bộ, người lao động toàn hệ thống, năm 2023, Agribank ủng hộ hơn 500 tỷ đồng triển khai các hoạt động an sinh xã hội, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế; xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết; xóa đói giảm nghèo; đền ơn đáp nghĩa; khắc phục hậu quả thiên tai.

Bài và ảnh: Thùy Trang

Đọc thêm

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Kim TT/AVPL 17,200 ▲110K 17,500 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▼40K 17,200 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▼40K 17,150 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▼40K 17,130 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Nghệ An 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Thái Bình 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 ▲90K 17,360 ▲90K
Trang sức 99.99 16,670 ▲90K 17,370 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 ▲11K 17,492 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 ▲11K 17,493 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 ▲11K 1,747 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 ▲11K 1,748 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 ▲11K 1,732 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 ▲1089K 171,485 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 ▲825K 130,063 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 ▲98209K 117,938 ▲106219K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 ▲672K 105,813 ▲672K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 ▲642K 101,136 ▲642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 ▲459K 72,382 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cập nhật: 31/03/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17521 17794 18367
CAD 18356 18632 19249
CHF 32248 32631 33272
CNY 0 3470 3830
EUR 29572 29843 30870
GBP 34002 34392 35325
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14720 15308
SGD 19862 20144 20672
THB 713 776 830
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,784 29,808 31,038
JPY 160.97 161.26 169.96
GBP 34,280 34,373 35,335
AUD 17,778 17,842 18,403
CAD 18,594 18,654 19,222
CHF 32,595 32,696 33,449
SGD 20,051 20,113 20,770
CNY - 3,790 3,908
HKD 3,302 3,312 3,429
KRW 15.95 16.63 17.98
THB 764.52 773.96 823.78
NZD 14,750 14,887 15,238
SEK - 2,718 2,797
DKK - 3,986 4,102
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,096.35 - 6,841.52
TWD 744.27 - 896.07
SAR - 6,920.72 7,244.92
KWD - 83,761 88,573
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26357
AUD 17704 17804 18729
CAD 18538 18638 19652
CHF 32502 32532 34106
CNY 3753.3 3778.3 3913.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29755 29785 31508
GBP 34304 34354 36107
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14830 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20027 20157 20878
THB 0 742.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17190000 17190000 17490000
SBJ 16000000 16000000 17490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,357
USD20 26,169 26,219 26,357
USD1 26,169 26,219 26,357
AUD 17,784 17,884 18,990
EUR 29,913 29,913 31,324
CAD 18,500 18,600 19,908
SGD 20,112 20,262 20,826
JPY 161.97 163.47 168.01
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,188,000 0 17,492,000
CNY 0 3,663 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80