Áp lực giảm lãi suất huy động cho vay trong trung hạn vẫn còn

Thái Duy
(TBTCO) - Mặc dù trong ngắn hạn, xu hướng lãi suất huy động sẽ tiếp tục giảm, nhưng về trung hạn, áp lực vẫn còn trong trường hợp tín dụng hồi phục, cũng như tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sẽ được điều chỉnh giảm vào tháng 10 tới đây.
aa

Lãi suất liên ngân hàng tạo đáy kể từ giữa tháng 7/2022

Báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ tuần qua của SSI Research cho biết, sau một tuần Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, thanh khoản trên hệ thống ngân hàng duy trì ổn định và mặt bằng lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh.

Cụ thể, chỉ tính tới cuối tuần qua, lãi suất VND bình quân liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm giảm xuống chỉ còn 1,20%/năm, đây là mức thấp nhất kể từ giữa tháng 7/2022 và giảm tới 220 điểm cơ bản so với cuối tuần trước. Chênh lệch lãi suất VND-USD kỳ hạn qua đêm duy trì ở mức âm, tuy nhiên áp lực lên tỷ giá hiện tại không có nhiều nhờ đồng USD quốc tế suy yếu và nguồn cung ngoại tệ ổn định.

Lãi suất trên thị trường 1 tiếp tục hạ nhiệt trong bối cảnh thanh khoản dồi dào, cũng như phản ứng trước động thái hạ một số lãi suất điều hành từ NHNN. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn trên 6 tháng có sự phân hóa giữa nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần nhà nước và NHTM cổ phần.

Cũng theo thông tin từ SSI Research, khối lượng giao dịch trung bình ngày có sự cải thiện (tăng 3,6% so với tuần trước) nhưng vẫn thấp hơn 30% so với mức giao dịch cao điểm vào cuối năm 2022.

Xuyên suốt tuần, nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng với khối lượng khá hạn chế và NHNN tiếp tục không phát hành tín phiếu mới. Hoạt động trên kênh mua kỳ hạn cũng khá trầm lắng, trong đó NHNN chào thầu 25 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn 28 ngày với lãi suất 5,5% và chỉ có 215,5 tỷ đồng trúng thầu. Tổng cộng, NHNN đã hút ròng 1,9 nghìn tỷ đồng. Khối lượng lưu hành trên kênh tín phiếu duy trì ở mức 110,7 nghìn tỷ đồng và trên kênh cầm cố chỉ còn 1,2 nghìn tỷ đồng.

Áp lực giảm lãi suất huy động cho vay trong trung hạn vẫn còn

Cùng với đó, lãi suất trên thị trường 1 tiếp tục hạ nhiệt trong bối cảnh thanh khoản dồi dào cũng như phản ứng trước động thái hạ một số lãi suất điều hành từ NHNN. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn trên 6 tháng có sự phân hóa giữa nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần nhà nước và NHTM cổ phần. Lãi suất kỳ hạn 12 tháng dao động 7,2% - 8,2%, giảm khoảng 150 - 200 điểm cơ bản so với cuối năm 2022 cho nhóm NHTM nhà nước và dao động trong khoảng 8,0 - 8,9% cho nhóm ngân hàng còn lại.

“Mặc dù trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng xu hướng lãi suất huy động sẽ tiếp tục giảm nhưng về trung hạn, áp lực vẫn còn trong trường hợp tín dụng hồi phục, cũng như tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sẽ được điều chỉnh giảm vào tháng 10 tới đây” - chuyên gia của SSI Research cho hay.

Tỷ giá USD/VND tiếp tục hạ nhiệt

Báo cáo của SSI Research cho biết, tuần trước, trong cuộc họp tháng 3, bên cạnh việc tiếp tục tăng lãi suất lên 25 điểm cơ bản như kỳ vọng nhằm kiểm soát lạm phát, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) khẳng định, hệ thống ngân hàng tại Mỹ trong trạng thái khỏe mạnh, song những diễn biến gần đây có thể khiến điều kiện tài chính chặt chẽ hơn.

Những bất ổn trên hệ thống ngân hàng khiến cho thị trường bắt đầu đặt cược FED sẽ sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Xác suất FED bắt đầu cắt giảm lãi suất ngay từ cuộc họp tháng 6 hoặc tháng 7 đã xuất hiện.

Tương đồng với diễn biến quốc tế, tỷ giá niêm yết tại các NHTM và tỷ giá liên ngân hàng đã hạ nhiệt trong tuần trước. Mặc dù vậy, áp lực đối với tiền Đồng là có khi chênh lêch lãi suất VND-USD liên ngân hàng ở mức âm.

Trên thị trường ngoại hối, xu hướng trong tuần trước là tìm kiếm đến tài sản trú ẩn an toàn, trong đó vàng được hưởng lợi rõ ràng nhất từ xu hướng này.

Theo dữ liệu từ SSI Research, giá vàng thế giới tiến sát về vùng 2.000 USD/ounce, và đồng USD (đo lường thông qua chỉ số DXY) giảm 0,6%. Các đồng tiền chủ chốt khác đều tăng giá so với USD như JPY 1,40%, EUR +0,98% hay GBP +0,53%.

Áp lực giảm lãi suất huy động cho vay trong trung hạn vẫn còn

Trên thị trường trong nước, tương đồng với diễn biến quốc tế, tỷ giá niêm yết tại các NHTM và tỷ giá liên ngân hàng đã hạ nhiệt trong tuần trước. Mặc dù vậy, áp lực đối với tiền Đồng là có khi chênh lêch lãi suất VND-USD liên ngân hàng ở mức âm. Tuy nhiên, thông thường quý I là giai đoạn nguồn cung ngoại tệ tương đối tích cực giúp môi trường tỷ giá ổn định.

Kết phiên cuối tuần qua, tỷ giá niêm yết từ Vietcombank giảm 70 đồng/USD, trong khi tỷ giá chợ đen giảm 70 đồng/USD, giao dịch ở 23.480/23.530 VND/USD (mua vào/bán ra). Tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng giảm 0,2%, xuống 23.530 VND/USD và tiệm cận vùng giá mua của NHNN./.

Thái Duy

Đọc thêm

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 27/09/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 27/09/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30