Basel III là điều kiện cần để ngân hàng Việt hội nhập quốc tế

(TBTCO) - Sau rất nhiều năm thử nghiệm, cuối cùng, một số ngân hàng Việt Nam đã tự tin khẳng định mình có thể áp dụng bộ chuẩn mực Basel III vào hoạt động kinh doanh và quản trị ngân hàng. Bước tiến lớn này đưa ngân hàng Việt Nam lên tầm vóc mới: đạt được những chuẩn mực lớn nhất mà những ngân hàng lớn nhất thế giới đang áp dụng.
aa

Lợi ích của Basel III đối với ngân hàng Việt

Thực tế không phải bây giờ mà từ khoảng 5 năm trước tức vào khoảng đầu năm 2019, cụm từ Basel III đã trở nên “nóng bỏng” trong giới ngân hàng Việt sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) “bấm nút” thông qua kết quả thực hiện kết quả Basel II tại một số ngân hàng thương mại. Trước thời điểm đó, dù các chuẩn mực của Basel II vẫn khiến các ngân hàng Việt Nam gặp khó nhưng Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực Basel II cùng với Thông tư số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ đã giúp nhiều ngân hàng dần chinh phục được Basel II. Thành quả bước đầu trong việc triển khai Basel II đã khích lệ cộng đồng ngân hàng tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để thử nghiệm Basel III.

Vì sao Basel III lại quan trọng khiến ngân hàng Việt Nam ráo riết thực hiện?

Thứ nhất, Basel III ra đời nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng. Quay lại lịch sử có thể thấy, Basel III ra đời năm 2010 trong bối cảnh nền tài chính toàn cầu vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009. Đi qua cuộc khủng hoảng cũng là lúc chuẩn mực Basel III với hàng loạt quy định như chiếc phễu lọc các rủi ro, giúp hệ thống ngân hàng không gặp lại biến cố tương tự. Khác với các chuẩn mực Basel I, II ra đời trước đó, Basel III yêu cầu ngân hàng xác định rõ ràng một mức độ an toàn vốn, tính thanh khoản và đòn bẩy.

Thứ hai, Basel III sẽ giúp ngân hàng chống chịu được các biến cố bất thường. Muốn đáp ứng được chuẩn mực Basel III, ngân hàng bắt buộc phải chuẩn bị lượng vốn dồi dào hơn, chấp nhận đệm dự phòng lớn hơn để giảm rủi ro cho hoạt động. Đổi lại, ngân hàng sẽ tăng được khả năng thanh khoản, có đủ đệm vốn dự trữ để chống chịu được các biến động bất thường của thị trường tài chính.

Thứ ba, Basel III là chuẩn mực quốc tế nên đáp ứng được chuẩn mực này, ngân hàng sẽ dễ dàng huy động vốn quốc tế. Do Basel III là một chuẩn mực trong lĩnh vực được nhiều ngân hàng thế giới áp dụng nên một khi ngân hàng đáp ứng được các điều kiện của chuẩn mực này thì ngân hàng sẽ dễ dàng tiếp cận thị trường vốn quốc tế.

Chính bởi tầm quan trọng của Basel III, mặc dù việc áp dụng Basel III là không hề dễ dàng, thậm chí phải hy sinh một phần nguồn vốn để tăng mức độ an toàn nhưng nhiều ngân hàng Việt Nam đã ráo riết thử nghiệm chuẩn mực này từ rất lâu.

Sau 5 năm thử nghiệm, Basel III thực hiện đến đâu?

Như đề cập ở trên, một trong những thách thức lớn đặt ra trong bộ chuẩn mực này là yêu cầu nâng cao nguồn vốn và chất lượng vốn, cùng bộ đệm dự phòng lớn hơn. Điều này lý giải vì sao nhiều ngân hàng có quy mô hàng đầu của Việt Nam vẫn chưa thể hoàn tất Basel III.

Basel III là điều kiện cần để ngân hàng Việt hội nhập quốc tế
HDBank vừa công bố chính thức chinh phục bộ chuẩn mực Basel III và sẽ áp dụng toàn diện vào quản trị kinh doanh, quản trị ngân hàng.

Cho đến hiện tại, mới rất ít ngân hàng công bố hoàn thành các chỉ tiêu trong chuẩn mực Basel III dù việc thử nghiệm triển khai 4 - 5 năm trước. Khoảng năm 2018, khá nhiều ngân hàng như HDBank, OCB, VIB,… đã lấy những chỉ tiêu quan trọng trong Basel III để làm kim chỉ nam phấn đấu, thử nghiệm ngay trong giai đoạn tăng tốc Basel II. Bởi thế, cho đến nay, dù Basel II mới về đích được ít lâu thì một số ít ngân hàng đã sớm chinh phục được một phần hoặc toàn bộ các tiêu chí ngặt nghèo của Basel III.

Là một trong những ngân hàng tiên phong ứng dụng, hoàn thành Basel II từ rất sớm, HDBank cũng vừa công bố chính thức chinh phục bộ chuẩn mực Basel III và sẽ áp dụng toàn diện vào quản trị kinh doanh, quản trị ngân hàng. Thực tế, trước bản công bố chính thức áp dụng Basel III, HDBank đã nhiều lần bày tỏ quyết tâm ứng dụng sớm Basel III vào hệ thống. Ngoài việc luôn tăng cường chất lượng nguồn vốn, chất lượng tài sản, khả năng sinh lời thì HDBank đặt nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống các chính sách, quy trình và đặc biệt là ứng dụng công nghệ để giám sát, dự báo sớm và cảnh báo kịp thời mọi rủi ro.

“Bước đệm” cho Basel III được ngân hàng thực thi những năm qua là duy trì hệ thống kiểm soát với 3 trụ cột là tính hệ số CAR theo Basel; áp dụng đánh giá nội bộ mức đủ vốn – ICAAP và minh bạch thông tin... Đặc biệt, rào cản lớn nhất của Basel III cho các ngân hàng là nâng tỷ trọng vốn cấp I lên mức tối thiểu 6% thì ngân hàng đã chinh phục được rất sớm.

Hiện, HDBank là một trong những ngân hàng hiếm hoi được đánh giá là đạt độ an toàn cao trong mọi hoạt động kinh doanh, quản trị với tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đạt 13,4%; tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ (theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN) của HDBank đạt 0,96%; tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn là 8,4%, thấp hơn mức 34% theo quy định; tỷ lệ dư nợ/huy động là 81,1% so với mức quy định tối đa 85%...

Hải Băng

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

(TBTCO) - Sáng 14/9, tỷ giá trung tâm tăng 11 đồng lên 25.607 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng 0,09% lên 99,21 điểm. Lạm phát cơ bản Mỹ tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng quyết định lãi suất trong tuần này.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 ▼40K 14,520 ▼40K
Trang sức 99.99 13,930 ▼40K 14,530 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 ▲1283K 14,562 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 ▲1283K 14,563 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼4K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼4K 1,452 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 ▲1256K 1,441 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 ▼396K 142,673 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 ▼300K 108,236 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 ▲79486K 98,148 ▲88306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 ▼70678K 8,806 ▼79498K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 ▼233K 84,169 ▼233K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 ▼167K 60,246 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cập nhật: 14/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18267 18841
CAD 18175 18451 19068
CHF 31064 31442 32082
CNY 0 3830 3926
EUR 29337 29557 30637
GBP 34222 34613 35546
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14676 15259
SGD 19903 20185 20753
THB 696 760 813
USD (1,2) 25717 0 0
USD (5,10,20) 25756 0 0
USD (50,100) 25784 25798 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18194 18294 19224
CAD 18372 18472 19489
CHF 31322 31352 32938
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29548 29578 31303
GBP 34555 34605 36363
HKD 0 3305 0
JPY 164.75 165.25 175.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14812 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20073 20203 20935
THB 0 727.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14260000 14260000 14560000
SBJ 13000000 13000000 14560000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,692 25,812 26,160
USD20 25,662 25,812 26,160
USD1 25,642 25,812 26,160
AUD 18,324 18,424 19,537
EUR 29,484 29,584 31,249
CAD 18,327 18,427 19,737
SGD 20,203 20,353 20,908
JPY 166.21 167.71 173.25
GBP 34,522 34,672 35,736
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30